6.04.2026

 

GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT TRONG VĂN KHẤN

CỦA TỘC NGƯỜI BAHNAR, JRAI Ở  GIA LAI

 

                             Thạc sĩ Hoàng Thanh Hương                                      

          1. Mở đầu

          Người Bahnar và Jrai là hai tộc người bản địa tiêu biểu của khu vực Bắc Tây Nguyên, có đời sống văn hóa truyền thống phong phú, gắn bó mật thiết với thiên nhiên. Người Bahnar, Jrai theo hình thức tôn giáo sơ khai nhất của loài người là tín ngưỡng đa thần hay còn gọi là tín ngưỡng “Vạn vật hữu linh”. Trong hệ thống văn hóa đó, văn khấn giữ vai trò đặc biệt quan trọng, là phương tiện giao tiếp giữa con người với thế giới thần linh trong các lễ thức như cúng trâu, mừng nhà rông, cúng lúa, bỏ mả… Không chỉ mang chức năng nghi lễ, văn khấn còn chứa đựng những giá trị nghệ thuật đặc sắc, phản ánh tư duy thẩm mỹ và khả năng sáng tạo của cộng đồng. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện đại hóa, loại hình này đang đứng trước nguy cơ mai một, đòi hỏi những nghiên cứu có hệ thống nhằm nhận diện và bảo tồn. Bài viết này tập trung làm rõ các giá trị nghệ thuật tiêu biểu của văn khấn Bahnar, Jrai ở Gia Lai, qua đó góp phần khẳng định vị trí của loại hình này trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam.

Người Bahnar, Jrai gắn bó lâu đời với núi rừng hoang sơ, thiên nhiên hùng vĩ, chính vì vậy, họ đã tạo dựng được một nền văn học dân gian phong phú, đặc sắc trong đó có loại hình văn khấn. Đây là những lời cúng được đọc lên, hát lên trong các lễ thức truyền thống nên còn được gọi là dân ca nghi lễ. Các bài khấn là hồn cốt của mỗi lễ thức truyền thống, thể hiện niềm tin sâu sắc vào thế giới thần linh, được coi là một loại hình văn hóa phi vật thể đặc sắc của dân tộc Bahnar, Jrai. Người Bahnar, Jrai dùng lời khấn làm phương tiện giao tiếp, biểu đạt ý nghĩ, mong muốn, khát vọng của mình với thế giới thần linh. Theo tiến trình phát triển của đời sống văn hóa xã hội, lời khấn không chỉ dừng ở chỗ diễn tả câu chữ nôm na mà dần trở nên tinh tế mang tính nghệ thuật cao có bố cục, hình ảnh, vần điệu trở thành những BÁI KHẤN. Lễ thức nào thì có bài khấn của lễ thức ấy. Cùng một lễ thức nhưng mỗi bài khấn ở mỗi buôn, làng lại khác nhau tạo nên sự phong phú đa dạng như những bài thơ độc lập. Chính vì thế nhà nghiên cứu Ngô Văn Doanh đã cho rằng: “ Lời cúng bỏ mả - một loiaj hình văn học dân gian đặc biệt”. Tuy vậy các thủ pháp nghệ thuật của các bài khấn tương đối giống nhau tạo nên những giá trị sau:

2. Các giá trị nghệ thuật của văn khấn

2.1. Giá trị nghệ thuật về cấu trúc

         Văn khấn có cấu trúc chặt chẽ gồm ba phần: mở đầu, nội dung chính và kết thúc.     Mở đầu là lời mời gọi thần linh (Yang), thể hiện sự tôn kính và hiểu biết về hệ thống thần linh. Ví dụ trong lễ thức Cúng trâu tạ ơn ở xã Kông Bơ La thì phần đầu của bài khấn là mời những vị thần cao nhất: thần trên trời, thần dưới đất và cả những thần mang tính chất tổng quát xấu/tốt: “Ơ Yang/Yang xấu, yang tốt/Yang trên trời, Yang dưới đất”. Khi cúng Mừng nhà rông mới thì nghệ nhân lại mời các Yang liên quan đến nhà cửa là chính: “Ơ Yang! Các yang đẹp yang xấu/Các yang ông yang bà/Các yang nhà yang cửa…”. Trong lễ thức cúng trẻ sơ sinh thì lại có các yang liên quan đến đứa trẻ: “Ơ yang sức khỏe, yang sữa bầu, yang cuống rốn”. Trong lễ thức bỏ mả thì gọi các atâu: “Ơ ma cũ, ma mới”. Trong đám cưới thì gọi: “Ơ yang/Yang ông mai bà mối/Yang đã kết nối hai người thành lứa thành đôi…”. Chỉ cần qua phần mở đầu người nghe đã có thể đoán được hôm nay đang tổ chức lễ thức gì. Những vị thần được mời gọi ít nhiều đều có trách nhiệm to lớn hoặc liên quan đến lễ thức ấy. Tùy theo mức độ to/nhỏ của lễ thức mà mới những vị thần có vị trí, uy tín, sức mạnh tương ứng với lễ thức dó. Ví dụ trong lễ thức cộng đồng thường có quy mô lớn thì không thể không mời các vị thần cai quản vụ trụ (Bok Kei Dei), các thần sông, thần núi, thần làng. Ngược lại nếu lễ thức nhỏ mà mời các vị thần lớn thì rõ ràng không tương xứng, thần linh sẽ tự ái, trách phạt, lần sau không đến nữa. Vì vậy, việc mời gọi, chuẩn  bị cho cuộc giao tiếp cũng chính là thể hiện sự hiểu biết, trân trọng các vị thần.

          Thân bài trình bày mục đích lễ thức và bộc lộ ước vọng (sức khỏe, mùa màng, no đủ). Đây là phần thể hiện nội dung chính của lễ thức. Lời khấn sẽ báo cho các thần biết mục đích chính của lễ thức này là gì. Ví dụ như lễ Tạ ơn thì nhớ đến công lao của các thần nên tổ chức lễ để cám ơn công lao đó: “Nhớ khi xưa cha ông/Cầu các yang cho no đủ”. Lễ cúng sân nhà rông thì nói: “Chúng tôi mời thần tốt đến gần/ Chúng tôi đuổi thần xấu đi xa/ Chúng tôi cúng thần SÂN/ Chúng tôi muốn làm nhà mới…/ Chúng tôi mổ heo mổ gà để cúng thần SÂN…”. Hay khi làm lễ thức đóng cửa kho: “…Chúng tôi cúng yang rẫy/ Chúng tôi cúng yang lúa/ Hôm nay chúng tôi đóng cửa kho…”. Hay khi làm lễ thức đầy tháng lời khấn nói rõ: “ Đứa trẻ sinh ra rồi/ Hôm nay đầy tháng/ Cuống rốn đã rơi/ Đứa trẻ chào đời/ Cầu mong luôn luôn khỏe mạnh”.

      Khi đã nói rõ mục đích của lễ thức, bài khấn sẽ bộc lộ ước muốn của cộng đồng hoặc gia đình, cá nhân. Ước muốn này có lúc được hòa quyện trong việc ghi nhận công lao giúp đỡ của các vị thần: “Nhớ khi xưa cha ông/ Cầu các yang cho no đủ/Trồng lúa được  lúa/ Trồng khoai được khoai/ Nuôi một trâu được hai/ Nuôi một dê được chục/ Nuôi heo heo tròn ủng/ Nuôi gà gà đầy đàn…”. Có lúc nói thẳng như trong lễ Cúng hồn lúa: “Cầu mong các yang giữ yên hồn lúa/ Cho cuộc sống chúng tôi no đủ/ Dồi dào thức ăn”. Hay trong lễ trỉa hạt, niềm mong ước không hề giấu diếm: “Cầu mong yang cho bắp, lúa rau được mùa/ Mọc đầy các hố/ Trổ đủ hạt gốc/ Dù ban ngày lá đăng/ Dù ban đêm lá đá/ Dù mưa tới đêm nay/ Tới ngày hạt giống vẫn mọc đầy.”… Hay trong lễ Mừng nhà rông mới cũng vẫn là mơ ước đó: “Cầu xin các yang/ Cho buôn trên làng dưới/ Đều có ăn có uống/ Có lúa, có hạt kê, có khoai, bắp, củ mì/ Cho chúng tôi nuôi heo heo đầy đàn/ Nuôi gà gà đầy sân/ Con người dồi dào sức khỏe…”. Ở thời đại nào, dân tộc nào thì ước mong sức khỏe, ước mong cuộc sống ấm no hạnh phúc cũng được đặt lên hàng đầu. Với dân tộc Bahnar, Jrai niềm mong ước đó càng tha thiết, cháy bỏng hơn vì cuộc sống lao động sản xuất hoàn toàn phụ thuộc vào thiên nhiên. Họ luôn ước ao năm đó mưa thuận gió hòa, có đủ lúa, mì, khoai, bắp… không lo bị đói. Gia súc, gia cầm không bị ốm đau, dịch bệnh. Đây là ước mơ chính đáng. Chính vì vậy họ nhờ cậy vào sức mạnh siêu nhiên, tin vào sự giúp đỡ che chở của thần linh. Lời khấn góp phần nâng cao sức mạnh tinh thần, giúp con người vượt qua mọi khó khăn gian khổ. 

Kết thúc là lời tạ ơn hoặc khẳng định sự hiến tế. Con người đã hiến tế các con vật (trâu, heo, gà) cùng loại nước uống ngon nhất (rượu ghè). Và dường như các thần đã nghe được sự cầu xin của con người, đã đồng ý giúp đỡ nên con người nhắc lại, khẳng định lại: “Các người ăn gan, tiết lợn đây rồi/ Chúng tôi muốn khấn như thế” (Sơmăh Kơcham). “Chúng tôi cúng lợn gà cởi nợ cho cả làng/ Yang lấy lợn gà của cả làng rồi nhé/ Xin hãy bằng lòng cho”. Có khi  bài khấn kết thúc không cần phải khẳng định mà chỉ là sự cám ơn : “ Chúng tôi cám ơn nhờ thần phù hộ/ Cho chúng tôi làm cái rẫy thật to”. Tuy vậy ai cũng hiểu là sự việc đã kết thúc, chắc chắn các vị thần sẽ ủng hộ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất hoặc  đáp ứng nhu cầu của con người. 

Cấu trúc này thể hiện tư duy logic, mạch lạc, đồng thời phản ánh quan niệm giao tiếp “có đầu, có cuối” với thần linh.

2.2. Giá trị về thể loại và tính thi ca

          Để phục vụ cho lễ thức nên mỗi bài khấn thường có nội dung đơn giản, rõ ràng. Lễ thức nhằm mục đích gì thì nội dung bài khấn cũng thể hiện, bám sát nội dung đó. Trừ phần mở đầu kêu gọi, mời tên các vị thần khác nhau (thần trời, thần đất, thần sông thần núi hoặc chỉ là thần nương rẫy, thần lúa hoặc chỉ là thần ông bà cha mẹ, thần sức khỏe…) và lý do tổ chức lễ khác nhau (Cúng đầu năm hoặc cúng bến nước hoặc cúng thổi tai hoặc cúng trỉa lúa…) thì bài khấn nào cũng thể hiện nội dung giống nhau: muốn có sức khỏe, cuộc sống đầy đủ, no ấm và cầu mong các vị thần phù hộ, giúp đỡ để ước muốn đó trở thành sự thật. Nhưng nếu chỉ nói nôm na, quẩn quanh như vậy thì các bài khấn đã không thể trở thành văn khấn, không được coi là một loại hình văn học. Có được vị trí này chính là lời khấn được sắp đặt trên dưới như những câu thơ. Nói về sự nhàn rồi để chuẩn bị cho lễ thức Ăn cốm mới: “Chúng tôi không ra nương ra rẫy/Chúng tôi không vào rừng chặt cây/Chúng tôi không làm này làm nọ/ Chúng tôi mời các yang đến ăn cốm mới…ơ (Ăn cốm mới,  Đinh Tươch - xã Kông Bơ La. Y Tư  dịch). Chỉ là sự liệt kê một số con thú hay ăn hạt giống cũng được sắp đặt thành khổ thơ: “Chim sẻ ở trong tổ/ Bầy kiến ở trong ổ/Con sóc ở trong bụi rậm/Con nhím ở bụi cây/Con chuột ở nơi xa/ Đừng đào bới ăn hạt giống của ta (Vào mùa gieo trồng, Lê Kim Tương dịch). Còn đây, rõ ràng là những đoạn thơ: “Xuống hạt giống ở đâu cũng nảy mầm/Hạt rơi cũng mọc/Hạt vãi cũng sinh sôi/Hạt bắn tung tóe cũng lên thành cây cỏ tốt tươi/ Mùa sau càng bội thu no ấm”... (Đóng cửa kho, Đinh Xăm - Xã Kông Bơ La, Y Tư dịch). Hay chỉ là lời cầu khẩn cũng thành đoạn thơ: “Cầu các yang cho no đủ/Trồng lúa được lúa/Trồng khoai được khoai/Nuôi một trâu được hai/Nuôi một dê được chục/Nuôi heo heo tròn ủng/Nuôi gà gà đầy đàn…”. Trong bài khấn, mỗi lời khấn đứng riêng cũng đã thấy phảng phất âm điệu thơ ca bởi sự ngắn gọn, vần vè: “Hôm nay chúng tôi chọn ngày thảnh thơi/ Chúng tôi không bận bắt cá, không bận bẫy chim…”. Bài khấn đã sử dụng thể loại thơ hoặc văn vần (tiếng Bahnar gọi là Pơtuk, tiếng Jrai là Pơdok hay Pơduk). Có nhiều cách nói vần nhưng phổ biến trong văn khấn là dùng vần lưng và vần chân … “Hỡi thần!/          Sợ hồn lúa này bị nhiều chim ăn, rụng nhiều hạt, rơi rớt nhiều giữa đường/Sợ nhiều chim Cu bới, chim sẻ tha/Này đây, chúng tôi cúng một ghè rượu, một con gà để đưa hồn lúa về tận kho,  tận chòi, tận nhà tránh hồn phiêu phách lạc/Cầu mong thần hãy phù hộ đưa hồn lúa về tận kho, tận chòi, tận nhà”. hay “Một năm dù chỉ có một tháng một ngày/ Dù thu hoạch được một vốc tay hay một gùi hay đầy kho/Chúng tôi vẫn mời các yang chung vui thưởng thức…” (Ăn cốm mới, Đinh Tươch - xã Kông Bơ La. Y Tư  dịch).  Đây là cách nói trong lễ Đóng cửa kho: “Lấy lúa ra khó nhọc như đào đất/Lấy lúa ra chật vật như xúc sỏi/Lấy bao nhiêu kho lúa vẫn tràn đầy…” (Đóng cửa kho - Lê Kim Tương dịch). Để cho vần, rất nhiều câu mang tính chất đối xứng như thế này: “Từ nay ăn một mâm, ngủ một chiếu” (Cúng Đám cưới).

          Có thể thấy, văn khấn mang đậm đặc trưng của văn vần và thơ ca dân gian với dạng câu ngắn, có nhịp điệu. Sử dụng vần lưng, vần chân. Có tính đối xứng và nhịp điệu rõ ràng. Nhờ đó, văn khấn không chỉ là lời cầu cúng mà còn mang giá trị thẩm mỹ, dễ nhớ, dễ truyền miệng, gần với hình thức thơ tự do.

2.3. Giá trị hình ảnh nghệ thuật

         Bài khấn thể hiện hàng loạt hình ảnh độc đáo, sinh động của núi rừng. Đó là chim muông, hoa lá, cây cỏ, động vật. Và chỉ có người dân tộc thiểu số gắn bó với thiên nhiên mật thiết mới nhìn ra sự tương đồng giữa các hiện tượng sự vật để làm phép so sánh vừa độc đáo vừa ngộ nghĩnh: “Nuôi gà gà đầy sân/Nuôi heo heo thành đàn đông như kiến như mối”. Để diễn tả tâm trạng vui sướng, hoan hỉ, bài khấn đã thể hiện trạng thái bằng những hình ảnh rất mới lạ nhưng đầy sức thuyết phục: “Hôm nay chúng tôi mở miệng như con cá phồng mang/ Chúng tôi mở lưỡi như con cá há miệng/ Cho lời của chúng tôi bay thật xa/Cho lời của chúng tôi vang thật to/Cho tất cả các yang đều biết/ Chúng tôi đã làm xong nhà rông…”.  Người Bahnar, Jrai biết sử dụng rất nhiều cách luyến láy từ ngữ kết hợp với hình ảnh cụ thể cùng cách nói ngoa mang lại hiệu quả cao nhất: “Ăn đầy cằm/Ăn ngập lưỡi/Ăn no không thở nổi…”. Đây là hình ảnh ấm no hạnh phúc đã được nhân cách hóa gây ấn tượng sâu sắc, bất ngờ: “Đau ốm đứng ở sau lưng/Đói nghèo dừng chân ngoài cổng…”, hay “Cái đói cái khát đi về đằng sau/Cái no cái ấm đi về đằng trước/Mưa lâm thâm cũng ướt/Mưa xa cũng thấm tới nơi/Cuộc sống mới như cây cỏ tốt tươi”.

Khi miêu tả sự việc người Bhanar, Jrai không đi thẳng vào vấn đề mà chọn cách diễn tả những chi tiết nhỏ để khái quát lên hình ảnh lớn. Đây là cảnh làm nhà rông trong bài khấn “Mừng nhà rông mới”. Nếu chỉ nói nhà rông của chúng tôi rất to, rất đẹp thì ngắn gọn, đơn giản quá, không còn gì là gợi hình, xúc cảm. Lời khấn đã diễn tả thế này: “Chúng tôi cuốc cỏ để làm sân thật to/Chúng tôi muốn đo chiều rộng chiều dài cho thật thẳng/Chúng tôi đo chiều sâu đào hố cho thật sâu/Chúng tôi muốn chôn cột nhà cho chắc/Lắp ráp cột kèo cho đẹp/Cả làng chung tay cùng làm/ Họ hàng nơi xa sang giúp/Anh em ở gần cùng mừng”. Người nghe hình dung được ngay nhà rông đó hẳn là to, là đẹp vì nó có sân to, có hàng cột thẳng, các hố chôn cột được đào sâu chắc chắn. Đông đúc người làm như thế hẳn là có rất nhiều việc, hẳn là không khí rất nhộn nhịp, đông vui. Quang cảnh làm nhà rông bỗng trở nên náo nhiệt, sống động trước mắt. Khi diễn tả ước muốn có nhiều lúa ngô khoai bắp người Bhanar, Jrai chọn cách nói vòng vo dần dần mang lại nhiều cảm xúc hơn cho người nghe: “Chúng tôi muốn có lúa thật nhiều/Chúng tôi muốn có bí bầu khắp rẫy/Con sóc, con chim không đến ăn/Con chuột, con nhím không đến gặm/Con nai con mang không vào phá/Hạt kê chín đầy ở rẫy xa/Bắp đua đẻ nhánh khắp rẫy gần…”. Cũng là mong muốn có cuộc sống ấm no nhưng đây là cách diễn tả khác: “Trồng lúa lúa cong lưng hạt mẩy/Trồng cây quả lúc lỉu đầy cành/Nuôi gà gà đầy sân/Nuôi heo heo thành đàn đông như kiến như mối/Hạt rơi cũng tự nảy mầm/Hạt rớt cũng lên cây ra hoa kết quả…”. Cũng có lúc chỉ cần phác qua vài hình ảnh chọn lọc, miêu tả trực diện mà đã làm hiện lên một thiên nhiên thật tươi đẹp, lộng lẫy. “Nơi đó đất đai bằng phẳng đẹp đẽ phì nhiêu/Có vườn cam thơm ngọt cho ma ăn...” (Bỏ mả - Ngô Văn Doanh sưu tầm).

Hình ảnh trong văn khấn phong phú, gắn với thiên nhiên Tây Nguyên.Các phép so sánh, nhân hóa tạo nên hình ảnh sinh động “Heo đông như kiến như mối”, “Đói nghèo đứng ngoài cổng”…Những hình ảnh này phản ánh tư duy trực quan, giàu cảm xúc của cư dân nông nghiệp Bahnar, Jrai.

2.4. Nghệ thuật sử dụng điệp ngữ

        Văn khấn đã sử dụng một trong những thủ pháp nghệ thuật quen thuộc là dùng điệp ngữ nhằm tăng giá trị diễn đạt. Các từ hoặc cụm từ hoặc cả câu trong bài khấn được lặp đi lặp lại theo nhiều cách: điệp nối tiếp, điệp ngắt quãng hoặc điệp vòng. Với việc sử dụng nhuần nhuyễn này tính gợi hình, gợi cảm trong các bài khấn được tăng lên rất nhiều. Nó tạo nên nhạc điệu, khắc họa tâm trạng, hình ảnh sâu sắc trong bài khấn. Câu khấn có nhạc tính, uyển chuyển, dễ nghe, dễ nhớ.

         Đây là hình ảnh mở đầu trong bài khấn Cúng nhà rông: “Hôm nay chúng tôi mở miệng như con cá phồng mang/Chúng tôi mở lưỡi như con cá há miệng/Cho lời của chúng tôi bay thật xa/Cho lời của chúng tôi vang thật to/Cho tất cả các yang đều biết”. Cuối bài khấn hình ảnh này lại được nhắc lại nhưng ở cấp độ khác tác động vào tâm trí người nghe sâu hơn, rõ rệt hơn: “Ớ yang/Chúng tôi mở miệng như con cá phồng mang/ Chúng tôi mở lưỡi như con cá há miệng/Cho lời lời thoát ra/Cho các yang nghe rõ…”. Đây là đoạn thơ nói về công lao của các yang đã giúp đỡ cho thế hệ trước: “Trồng lúa được lúa/Trồng khoai được khoai/Nuôi một trâu được hai/Nuôi một dê được chục/Nuôi heo heo tròn ủng/Nuôi gà gà đầy đàn”…. Đoạn thơ này đã được nhắc lại nguyên văn khi thế hệ sau cấu xin các yang giúp đỡ cho mình, khẳng định họ chỉ cần các yang cứ tiếp tục thế thôi. Được như thế cũng là ơn huệ to lớn lắm, hạnh phúc lắm. Hay những câu trong bài Dọn rẫy cũng là một cách nói vần: “Đây là nơi con chọn đất làm rẫy/Nếu yang không cho thì báo điềm xấu/Nếu yang đồng ý thì báo điềm lành/Xin yang chở che cho con đất tốt”. Khi cần, người khấn cũng nhắc đi nhắc lại: Chúng tôi mới có lúa đầy kho/Chúng tôi mới có bắp đầy chòi” để khẳng định rõ ràng hơn mong ước của mình. Đây là lời khấn khi cầu xin ma: “Xin ma hãy phù hộ cho chúng tôi cầm rìu cầm rựa cầm dao cho chắc/Khỏi bị chặt vào chân vào tay/Xin ma phù hộ cho chúng tôi cầm ché bát, bung nồi, ghè cho chắc khỏi làm rơi vỡ/Xin ma đừng quá vui mà bắt trâu bò, heo, gà và người của chúng tôi/Xin ma đừng đụng đến lúa, bắp, kê, mì của chúng tôi .  Từ “Xin ma” được lặp đi lặp lại nhiều lần thể hiện sự khẩn cầu thành tâm, tha thiết. Người Bahnar, Jrai tin rằng khi chết con người sẽ được hóa kiếp. Lễ Bỏ mả là lúc người chết đã hóa kiếp xong: “Các anh đã thành con hổ có vuốt sắc/Thành con mang có bộ chân chạy nhanh”. Sau một hồi diễn tả việc người sống đã làm đầy đủ lễ nghĩa chu đáo cho người chết, bài khấn nhắc lại sự hóa kiếp: “Các anh đã thành con chim trên cao, con sâu dưới đất/Thành con hổ có vuốt sắc/ Thành con mang có bộ chân chạy nhanh”. Điệp ngữ này một lần nữa làm rõ hơn trạng thái của người chết. Họ đã hết thời gian ở cõi trần, cần phải đi về nhà mới, thế giới mới, chỗ ở mới dành cho ma.

       Từ khi cất tiếng khóc chào đời, đến tuổi trưởng thành, khi dựng vợ, gả chồng hay đến lúc chết, người Bahnar, Jrai đều có những bài khấn. Bài khấn còn theo suốt hành trình vòng đời, trong lao động sản xuất, trong sinh hoạt giải trí giúp con người có thêm sức mạnh tinh thần, thêm niềm tin vào thần linh và bản thể để vượt qua mọi khó khăn vất vả, thêm nhiều nghị lực, tự tin để chống trọi với những bất trắc trong thiên nhiên.

          3. Kết luận

          Văn khấn của người Bahnar, Jrai ở Gia Lai là một loại hình văn học dân gian giàu giá trị nghệ thuật, thể hiện rõ nét tư duy thẩm mỹ và đời sống tâm linh của cộng đồng. Với cấu trúc chặt chẽ, ngôn ngữ giàu nhạc tính, hình ảnh sinh động và thủ pháp tu từ đặc sắc, văn khấn xứng đáng được xem là một di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo tồn và phát huy./.

                                                                                                              

 

 


 


Ông Ksor Thuông (ơi H' Que), buôn Ji, xã Ia Dreh trong lễ cúng trưởng thành của người Jrai.




Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét