GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT TRONG VĂN KHẤN
CỦA TỘC NGƯỜI BAHNAR, JRAI Ở GIA
LAI
Thạc sĩ Hoàng Thanh Hương
1. Mở đầu
Người Bahnar và Jrai là hai tộc người bản địa tiêu biểu của
khu vực Bắc Tây Nguyên, có đời sống văn hóa truyền thống phong phú, gắn bó mật
thiết với thiên nhiên. Người Bahnar,
Jrai theo hình thức tôn giáo sơ khai nhất của loài người là tín ngưỡng đa thần
hay còn gọi là tín ngưỡng “Vạn vật hữu linh”.
Trong hệ thống văn hóa đó, văn khấn giữ vai trò đặc biệt quan trọng, là phương
tiện giao tiếp giữa con người với thế giới thần linh trong các lễ thức như cúng
trâu, mừng nhà rông, cúng lúa, bỏ mả… Không chỉ mang chức năng nghi lễ, văn
khấn còn chứa đựng những giá trị nghệ thuật đặc sắc, phản ánh tư duy thẩm mỹ và
khả năng sáng tạo của cộng đồng. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện đại hóa, loại
hình này đang đứng trước nguy cơ mai một, đòi hỏi những nghiên cứu có hệ thống
nhằm nhận diện và bảo tồn. Bài viết này tập trung làm rõ các giá trị nghệ thuật
tiêu biểu của văn khấn Bahnar, Jrai ở Gia Lai, qua đó góp phần khẳng định vị
trí của loại hình này trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam.
Người Bahnar, Jrai gắn bó lâu đời với núi rừng hoang sơ, thiên nhiên hùng
vĩ, chính vì vậy, họ đã tạo dựng được một nền văn học dân gian phong phú, đặc sắc
trong đó có loại hình văn khấn. Đây là những lời cúng được đọc lên, hát lên
trong các lễ thức truyền thống nên còn được gọi là dân ca nghi lễ. Các bài khấn
là hồn cốt của mỗi lễ thức truyền thống, thể hiện niềm tin sâu sắc vào thế giới
thần linh, được coi là một loại hình văn hóa phi vật thể đặc sắc của dân tộc
Bahnar, Jrai. Người Bahnar, Jrai dùng lời khấn làm
phương tiện giao tiếp, biểu đạt ý nghĩ, mong muốn, khát vọng của mình với thế
giới thần linh. Theo tiến trình phát triển của đời sống
văn hóa xã hội, lời khấn không chỉ dừng ở chỗ diễn tả câu chữ nôm na mà dần trở
nên tinh tế mang tính nghệ thuật cao có bố cục, hình ảnh, vần điệu trở thành những
BÁI KHẤN. Lễ thức nào thì có bài khấn của lễ thức ấy. Cùng một lễ thức nhưng mỗi
bài khấn ở mỗi buôn, làng lại khác nhau tạo nên sự phong phú đa dạng như những
bài thơ độc lập. Chính vì thế nhà nghiên cứu Ngô Văn Doanh đã cho rằng: “ Lời
cúng bỏ mả - một loiaj hình văn học dân gian đặc biệt”. Tuy
vậy các thủ pháp nghệ thuật của các bài khấn tương đối giống nhau tạo nên những
giá trị sau:
2. Các giá trị nghệ thuật của văn khấn
2.1. Giá trị nghệ thuật về cấu trúc
Văn
khấn có cấu trúc chặt chẽ gồm ba phần: mở đầu, nội dung chính và kết thúc. Mở đầu là lời mời gọi thần linh (Yang),
thể hiện sự tôn kính và hiểu biết về hệ thống thần linh. Ví dụ trong lễ thức Cúng trâu tạ ơn ở xã Kông
Bơ La thì phần đầu của bài khấn là mời những vị thần cao nhất: thần trên trời,
thần dưới đất và cả những thần mang tính chất tổng quát xấu/tốt: “Ơ Yang/Yang xấu, yang
tốt/Yang trên trời, Yang dưới đất”. Khi cúng Mừng
nhà rông mới thì nghệ nhân lại mời các Yang liên quan đến nhà cửa là chính: “Ơ Yang! Các yang đẹp yang
xấu/Các yang ông yang bà/Các yang nhà yang cửa…”. Trong lễ thức cúng trẻ sơ
sinh thì lại có các yang liên quan đến đứa trẻ: “Ơ yang sức khỏe, yang sữa bầu,
yang cuống rốn”. Trong lễ thức bỏ mả thì gọi các atâu: “Ơ ma cũ, ma mới”. Trong
đám cưới thì gọi: “Ơ yang/Yang ông mai bà mối/Yang đã kết nối hai người thành
lứa thành đôi…”. Chỉ cần qua phần mở đầu người nghe đã có thể đoán được hôm nay
đang tổ chức lễ thức gì. Những vị thần được mời gọi ít nhiều đều có trách nhiệm
to lớn hoặc liên quan đến lễ thức ấy. Tùy theo mức độ to/nhỏ của lễ thức mà mới
những vị thần có vị trí, uy tín, sức mạnh tương ứng với lễ thức dó. Ví dụ trong
lễ thức cộng đồng thường có quy mô lớn thì không thể không mời các vị thần cai
quản vụ trụ (Bok Kei Dei), các thần sông, thần núi, thần làng. Ngược lại nếu lễ
thức nhỏ mà mời các vị thần lớn thì rõ ràng không tương xứng, thần linh sẽ tự
ái, trách phạt, lần sau không đến nữa.
Vì vậy, việc mời gọi, chuẩn bị cho cuộc
giao tiếp cũng chính là thể hiện sự hiểu biết, trân trọng các vị thần.
Thân bài trình bày mục đích lễ thức
và bộc lộ ước vọng (sức khỏe, mùa màng, no đủ). Đây là phần thể hiện nội dung chính của
lễ thức. Lời khấn sẽ báo cho các thần biết mục đích chính của lễ thức này là
gì. Ví dụ như lễ Tạ ơn thì nhớ đến công lao của các thần nên tổ chức lễ để cám
ơn công lao đó: “Nhớ khi xưa cha ông/Cầu các yang cho no đủ”. Lễ cúng sân nhà
rông thì nói: “Chúng tôi mời thần tốt đến gần/ Chúng tôi
đuổi thần xấu đi xa/ Chúng tôi cúng thần SÂN/ Chúng tôi muốn làm nhà mới…/
Chúng tôi mổ heo mổ gà để cúng thần SÂN…”. Hay khi làm lễ thức đóng cửa kho: “…Chúng tôi cúng yang rẫy/
Chúng tôi cúng yang lúa/ Hôm nay chúng tôi đóng cửa kho…”. Hay khi làm lễ thức
đầy tháng lời khấn nói rõ: “ Đứa trẻ sinh ra rồi/ Hôm nay đầy tháng/ Cuống rốn
đã rơi/ Đứa trẻ chào đời/ Cầu mong luôn luôn khỏe mạnh”.
Khi
đã nói rõ mục đích của lễ thức, bài khấn sẽ bộc lộ ước muốn của cộng đồng hoặc
gia đình, cá nhân. Ước muốn này có lúc được hòa quyện trong việc ghi nhận công
lao giúp đỡ của các vị thần: “Nhớ khi xưa cha ông/ Cầu các yang cho no đủ/Trồng
lúa được lúa/ Trồng khoai được khoai/
Nuôi một trâu được hai/ Nuôi một dê được chục/ Nuôi heo heo tròn ủng/ Nuôi gà
gà đầy đàn…”. Có lúc nói thẳng như trong lễ
Cúng hồn lúa: “Cầu mong các yang giữ yên hồn lúa/ Cho cuộc sống chúng tôi no đủ/
Dồi dào thức ăn”. Hay trong lễ trỉa hạt, niềm mong ước không hề giấu diếm: “Cầu mong yang
cho bắp, lúa rau được mùa/ Mọc đầy các hố/ Trổ đủ hạt gốc/ Dù ban ngày lá đăng/
Dù ban đêm lá đá/
Dù mưa tới đêm nay/ Tới ngày hạt giống vẫn mọc đầy.”… Hay trong lễ Mừng nhà
rông mới cũng vẫn là mơ ước đó: “Cầu xin các yang/ Cho buôn trên làng dưới/ Đều có ăn có uống/ Có lúa, có
hạt kê, có khoai, bắp, củ mì/ Cho chúng tôi nuôi heo heo đầy đàn/ Nuôi gà gà đầy
sân/ Con người dồi dào sức khỏe…”. Ở thời đại nào, dân tộc nào thì ước mong sức
khỏe, ước mong cuộc sống ấm no hạnh phúc cũng được đặt lên hàng đầu. Với dân tộc
Bahnar, Jrai niềm mong ước đó càng tha thiết, cháy bỏng hơn vì cuộc sống lao động
sản xuất hoàn toàn phụ thuộc vào thiên nhiên. Họ luôn ước ao năm đó mưa thuận
gió hòa, có đủ lúa, mì, khoai, bắp… không lo bị đói. Gia súc, gia cầm không bị ốm
đau, dịch bệnh. Đây là ước mơ chính đáng. Chính vì vậy họ nhờ cậy vào sức mạnh
siêu nhiên, tin vào sự giúp đỡ che chở của thần linh. Lời khấn góp phần nâng
cao sức mạnh tinh thần, giúp con người vượt qua mọi khó khăn gian khổ.
Kết thúc là lời tạ ơn hoặc khẳng định sự hiến tế. Con người đã hiến tế các con vật (trâu, heo, gà)
cùng loại nước uống ngon nhất (rượu ghè). Và dường như các thần đã nghe được sự
cầu xin của con người, đã đồng ý giúp đỡ nên con người nhắc lại, khẳng định lại:
“Các người ăn gan, tiết lợn đây rồi/ Chúng tôi muốn khấn như thế” (Sơmăh
Kơcham). “Chúng tôi cúng lợn gà cởi nợ cho cả làng/ Yang lấy lợn gà của cả làng
rồi nhé/ Xin hãy bằng lòng cho”. Có khi
bài khấn kết thúc không cần phải khẳng định mà chỉ là sự cám ơn : “
Chúng tôi cám ơn nhờ thần phù hộ/ Cho chúng tôi làm cái rẫy thật to”. Tuy vậy
ai cũng hiểu là sự việc đã kết thúc, chắc chắn các vị thần sẽ ủng hộ, tạo điều
kiện thuận lợi cho việc sản xuất hoặc
đáp ứng nhu cầu của con người.
Cấu trúc này thể hiện tư duy logic, mạch lạc, đồng thời phản ánh quan niệm
giao tiếp “có đầu, có cuối” với thần linh.
2.2. Giá trị về thể loại và tính thi ca
Để phục vụ cho lễ thức nên mỗi bài khấn
thường có nội dung đơn giản, rõ ràng. Lễ thức nhằm mục đích gì thì nội dung bài
khấn cũng thể hiện, bám sát nội dung đó. Trừ phần mở đầu kêu gọi, mời tên các
vị thần khác nhau (thần trời, thần đất, thần sông thần núi hoặc chỉ là thần
nương rẫy, thần lúa hoặc chỉ là thần ông bà cha mẹ, thần sức khỏe…) và lý do tổ
chức lễ khác nhau (Cúng đầu năm hoặc cúng bến nước hoặc cúng thổi tai hoặc cúng
trỉa lúa…) thì bài khấn nào cũng thể hiện nội dung giống nhau: muốn có sức khỏe,
cuộc sống đầy đủ, no ấm và cầu mong các vị thần phù hộ, giúp đỡ để ước muốn đó
trở thành sự thật. Nhưng nếu chỉ nói nôm na, quẩn quanh như vậy thì các bài
khấn đã không thể trở thành văn khấn, không được coi là một loại hình văn học.
Có được vị trí này chính là lời khấn được sắp đặt trên dưới như những câu thơ.
Nói về sự nhàn rồi để chuẩn bị cho lễ thức Ăn cốm mới: “Chúng
tôi không ra nương ra rẫy/Chúng tôi không vào rừng chặt cây/Chúng tôi không làm
này làm nọ/ Chúng tôi mời các yang đến ăn cốm mới…ơ (Ăn cốm mới, Đinh Tươch - xã Kông Bơ La. Y Tư dịch). Chỉ là sự liệt kê một số con thú
hay ăn hạt giống cũng được sắp đặt thành khổ thơ: “Chim sẻ ở trong tổ/ Bầy kiến
ở trong ổ/Con sóc ở trong bụi rậm/Con nhím ở bụi cây/Con chuột ở nơi xa/ Đừng
đào bới ăn hạt giống của ta (Vào mùa gieo trồng, Lê Kim Tương dịch). Còn
đây, rõ ràng là những đoạn thơ: “Xuống hạt giống ở đâu cũng nảy mầm/Hạt rơi cũng
mọc/Hạt vãi cũng sinh sôi/Hạt bắn tung tóe cũng lên thành cây cỏ tốt tươi/ Mùa
sau càng bội thu no ấm”... (Đóng cửa kho, Đinh Xăm - Xã Kông Bơ La, Y Tư
dịch). Hay chỉ là lời cầu khẩn cũng thành đoạn thơ: “Cầu các yang cho no
đủ/Trồng lúa được lúa/Trồng khoai được khoai/Nuôi một trâu được hai/Nuôi một dê
được chục/Nuôi heo heo tròn ủng/Nuôi gà gà đầy đàn…”.
Trong bài khấn, mỗi lời khấn đứng riêng cũng đã thấy phảng
phất âm điệu thơ ca bởi sự ngắn gọn, vần vè: “Hôm nay chúng tôi chọn ngày thảnh thơi/ Chúng tôi
không bận bắt cá, không bận bẫy chim…”.
Bài khấn đã sử dụng thể loại thơ hoặc văn vần (tiếng
Bahnar gọi là Pơtuk, tiếng Jrai là Pơdok hay Pơduk). Có nhiều cách nói vần
nhưng phổ biến trong văn khấn là dùng vần lưng và vần chân … “Hỡi
thần!/ Sợ hồn lúa này bị nhiều
chim ăn, rụng nhiều hạt, rơi rớt nhiều giữa đường/Sợ nhiều chim Cu bới, chim sẻ
tha/Này đây, chúng tôi cúng một ghè rượu, một con gà để đưa hồn lúa về tận
kho, tận chòi, tận nhà tránh hồn phiêu
phách lạc/Cầu mong thần hãy phù hộ đưa hồn lúa về tận kho, tận chòi, tận nhà”.
hay “Một
năm dù chỉ có một tháng một ngày/ Dù thu hoạch được một vốc tay hay một gùi hay
đầy kho/Chúng tôi vẫn mời các yang chung vui thưởng thức…” (Ăn cốm mới, Đinh
Tươch - xã Kông Bơ La. Y Tư dịch). Đây là cách nói trong lễ Đóng cửa kho: “Lấy
lúa ra khó nhọc như đào đất/Lấy lúa ra chật vật như xúc sỏi/Lấy bao nhiêu kho
lúa vẫn tràn đầy…” (Đóng cửa kho - Lê Kim Tương dịch). Để cho vần, rất
nhiều câu mang tính chất đối xứng như thế này: “Từ nay ăn một mâm, ngủ một
chiếu” (Cúng Đám cưới).
Có thể thấy, văn
khấn mang đậm đặc trưng của văn vần và thơ ca dân gian với dạng câu ngắn, có
nhịp điệu. Sử dụng vần lưng, vần chân. Có tính đối xứng và nhịp điệu rõ ràng.
Nhờ đó, văn khấn không chỉ là lời cầu cúng mà còn mang giá trị thẩm mỹ, dễ nhớ,
dễ truyền miệng, gần với hình thức thơ tự do.
2.3. Giá trị hình ảnh nghệ thuật
Bài khấn thể hiện hàng loạt
hình ảnh độc đáo, sinh động của núi rừng. Đó là chim muông, hoa lá, cây cỏ, động
vật. Và chỉ có người dân tộc thiểu số gắn bó với thiên nhiên mật thiết mới nhìn
ra sự tương đồng giữa các hiện tượng sự vật để làm phép so sánh vừa độc đáo vừa
ngộ nghĩnh: “Nuôi gà gà đầy sân/Nuôi heo heo thành đàn đông như kiến như mối”. Để diễn tả tâm trạng vui sướng, hoan hỉ, bài khấn
đã thể hiện trạng thái bằng những hình ảnh rất mới lạ nhưng đầy sức thuyết phục:
“Hôm nay chúng tôi mở miệng như con cá phồng mang/ Chúng tôi mở lưỡi như con cá
há miệng/ Cho lời của chúng tôi bay thật xa/Cho lời của chúng tôi vang thật
to/Cho tất cả các yang đều biết/ Chúng tôi đã làm xong nhà rông…”. Người Bahnar, Jrai biết sử dụng rất nhiều
cách luyến láy từ ngữ kết hợp với hình ảnh cụ thể cùng cách nói ngoa mang lại
hiệu quả cao nhất: “Ăn đầy cằm/Ăn ngập lưỡi/Ăn no không thở nổi…”.
Đây là hình ảnh ấm no hạnh phúc đã được nhân cách hóa gây ấn tượng sâu sắc, bất
ngờ: “Đau ốm đứng ở sau lưng/Đói nghèo dừng chân ngoài
cổng…”, hay “Cái đói cái khát đi về
đằng sau/Cái no cái ấm đi về đằng trước/Mưa lâm thâm cũng ướt/Mưa xa cũng thấm
tới nơi/Cuộc sống mới như cây cỏ tốt tươi”.
Khi miêu tả sự việc
người Bhanar, Jrai không đi thẳng vào vấn đề mà chọn cách diễn tả những chi tiết
nhỏ để khái quát lên hình ảnh lớn. Đây là cảnh làm nhà rông trong bài khấn “Mừng
nhà rông mới”. Nếu chỉ nói nhà rông của chúng tôi rất to, rất đẹp thì ngắn gọn,
đơn giản quá, không còn gì là gợi hình, xúc cảm. Lời khấn đã diễn tả thế này:
“Chúng tôi cuốc
cỏ để làm sân thật to/Chúng tôi muốn đo chiều rộng chiều dài cho thật thẳng/Chúng
tôi đo chiều sâu đào hố cho thật sâu/Chúng tôi muốn chôn cột nhà cho chắc/Lắp
ráp cột kèo cho đẹp/Cả làng chung tay cùng làm/ Họ hàng nơi xa sang giúp/Anh em
ở gần cùng mừng”. Người
nghe hình dung được ngay nhà rông đó hẳn là to, là đẹp vì nó có sân to, có hàng
cột thẳng, các hố chôn cột được đào sâu chắc chắn. Đông đúc người làm như thế hẳn
là có rất nhiều việc, hẳn là không khí rất nhộn nhịp, đông vui. Quang cảnh làm
nhà rông bỗng trở nên náo nhiệt, sống động trước mắt. Khi diễn tả ước muốn có
nhiều lúa ngô khoai bắp người Bhanar, Jrai chọn cách nói vòng vo dần dần mang lại
nhiều cảm xúc hơn cho người nghe: “Chúng tôi muốn có lúa thật nhiều/Chúng
tôi muốn có bí bầu khắp rẫy/Con sóc, con chim không đến ăn/Con chuột, con nhím
không đến gặm/Con nai con mang không vào phá/Hạt kê chín đầy ở rẫy xa/Bắp đua đẻ
nhánh khắp rẫy gần…”.
Cũng là mong muốn có cuộc sống ấm no nhưng đây là cách diễn tả khác: “Trồng lúa
lúa cong lưng hạt mẩy/Trồng cây quả lúc lỉu đầy cành/Nuôi gà gà đầy sân/Nuôi
heo heo thành đàn đông như kiến như mối/Hạt rơi cũng tự nảy mầm/Hạt rớt cũng
lên cây ra hoa kết quả…”.
Cũng có lúc chỉ cần phác qua vài hình ảnh chọn lọc, miêu tả trực diện mà đã làm
hiện lên một thiên nhiên thật tươi đẹp, lộng lẫy. “Nơi đó đất đai bằng phẳng đẹp
đẽ phì nhiêu/Có vườn cam thơm ngọt cho ma ăn...” (Bỏ mả - Ngô Văn Doanh sưu
tầm).
Hình ảnh trong văn khấn phong phú, gắn với thiên nhiên Tây Nguyên.Các
phép so sánh, nhân hóa tạo nên hình ảnh sinh động “Heo đông như kiến như mối”,
“Đói nghèo đứng ngoài cổng”…Những hình ảnh này phản ánh tư duy trực quan, giàu
cảm xúc của cư dân nông nghiệp Bahnar, Jrai.
2.4. Nghệ thuật sử dụng điệp ngữ
Văn khấn đã sử dụng một trong những thủ pháp nghệ thuật quen thuộc là dùng điệp ngữ nhằm tăng giá trị
diễn đạt. Các từ hoặc cụm
từ hoặc cả câu trong bài khấn được lặp đi lặp lại theo nhiều cách: điệp nối tiếp, điệp ngắt quãng
hoặc điệp vòng. Với việc sử dụng nhuần nhuyễn này tính gợi hình, gợi cảm trong
các bài khấn được tăng lên rất nhiều. Nó tạo nên nhạc điệu, khắc họa tâm trạng,
hình ảnh sâu sắc trong bài khấn. Câu khấn có nhạc tính, uyển chuyển, dễ nghe,
dễ nhớ.
Đây là hình ảnh mở đầu trong bài khấn Cúng
nhà rông: “Hôm nay chúng tôi mở miệng
như con cá phồng mang/Chúng tôi mở lưỡi như con cá há miệng/Cho lời của chúng
tôi bay thật xa/Cho lời của chúng tôi vang thật to/Cho tất cả các yang đều
biết”. Cuối bài khấn hình ảnh này lại được nhắc lại nhưng ở cấp độ khác tác
động vào tâm trí người nghe sâu hơn, rõ rệt hơn: “Ớ yang/Chúng tôi mở miệng như
con cá phồng mang/ Chúng tôi mở lưỡi như con cá há miệng/Cho lời lời thoát
ra/Cho các yang nghe rõ…”. Đây là
đoạn thơ nói về công lao của các yang đã giúp đỡ cho thế hệ trước: “Trồng lúa
được lúa/Trồng khoai được khoai/Nuôi một trâu được hai/Nuôi một dê được
chục/Nuôi heo heo tròn ủng/Nuôi gà gà đầy đàn”…. Đoạn
thơ này đã được nhắc lại nguyên văn khi thế hệ sau cấu xin các yang giúp đỡ cho
mình, khẳng định họ chỉ cần các yang cứ tiếp tục thế thôi. Được như thế cũng là
ơn huệ to lớn lắm, hạnh phúc lắm. Hay những câu trong bài “Dọn rẫy” cũng
là một cách nói vần: “Đây là nơi con chọn đất làm rẫy/Nếu yang không cho thì báo điềm xấu/Nếu
yang đồng ý thì báo điềm lành/Xin yang chở che cho con đất tốt”. Khi cần,
người khấn cũng nhắc đi nhắc lại: “Chúng tôi mới có lúa đầy
kho/Chúng tôi mới có bắp đầy chòi” để khẳng định rõ ràng hơn mong ước của mình. Đây là lời khấn khi cầu xin ma:
“Xin ma hãy phù hộ cho chúng tôi cầm rìu cầm rựa cầm dao cho chắc/Khỏi bị chặt vào chân vào tay/Xin ma phù hộ cho chúng
tôi cầm ché bát, bung nồi, ghè cho chắc khỏi làm rơi vỡ/Xin ma đừng quá vui mà
bắt trâu bò, heo, gà và người của chúng tôi/Xin ma đừng đụng đến lúa, bắp, kê,
mì của chúng tôi . Từ “Xin ma”
được lặp đi lặp lại nhiều lần thể hiện sự khẩn cầu thành tâm, tha thiết.
Người Bahnar, Jrai tin rằng khi chết con người sẽ được
hóa kiếp. Lễ Bỏ mả là
lúc người chết đã hóa
kiếp xong: “Các anh đã thành con hổ có vuốt sắc/Thành con
mang có bộ chân chạy nhanh”. Sau một hồi diễn tả việc người sống đã làm đầy đủ lễ nghĩa chu đáo
cho người chết, bài khấn nhắc lại sự hóa kiếp: “Các anh đã thành con chim trên
cao, con sâu dưới đất/Thành con hổ có vuốt sắc/ Thành
con mang có bộ chân chạy nhanh”. Điệp
ngữ này một lần nữa làm rõ hơn trạng thái của người chết. Họ đã hết thời gian ở
cõi trần, cần phải đi về nhà mới, thế giới mới, chỗ ở mới dành cho ma.
Từ khi cất tiếng khóc chào đời, đến tuổi trưởng thành, khi dựng vợ, gả chồng hay đến lúc chết, người Bahnar, Jrai đều có những bài
khấn. Bài khấn còn theo suốt hành trình vòng đời, trong lao động sản xuất,
trong sinh hoạt giải trí giúp con người có thêm sức mạnh tinh thần, thêm niềm
tin vào thần linh và bản thể để vượt qua mọi khó khăn vất vả, thêm nhiều nghị
lực, tự tin để chống trọi với những bất trắc trong thiên nhiên.
3. Kết luận
Văn khấn của người Bahnar, Jrai ở Gia Lai là một loại
hình văn học dân gian giàu giá trị nghệ thuật, thể hiện rõ nét tư duy thẩm mỹ
và đời sống tâm linh của cộng đồng. Với cấu trúc chặt chẽ, ngôn ngữ giàu nhạc
tính, hình ảnh sinh động và thủ pháp tu từ đặc sắc, văn khấn xứng đáng được xem
là một di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo tồn và phát huy./.
Ông Ksor Thuông (ơi H' Que), buôn Ji, xã Ia Dreh trong lễ cúng trưởng thành của người Jrai.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét