6.04.2026

 

GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT TRONG VĂN KHẤN

CỦA TỘC NGƯỜI BAHNAR, JRAI Ở  GIA LAI

 

                             Thạc sĩ Hoàng Thanh Hương                                      

          1. Mở đầu

          Người Bahnar và Jrai là hai tộc người bản địa tiêu biểu của khu vực Bắc Tây Nguyên, có đời sống văn hóa truyền thống phong phú, gắn bó mật thiết với thiên nhiên. Người Bahnar, Jrai theo hình thức tôn giáo sơ khai nhất của loài người là tín ngưỡng đa thần hay còn gọi là tín ngưỡng “Vạn vật hữu linh”. Trong hệ thống văn hóa đó, văn khấn giữ vai trò đặc biệt quan trọng, là phương tiện giao tiếp giữa con người với thế giới thần linh trong các lễ thức như cúng trâu, mừng nhà rông, cúng lúa, bỏ mả… Không chỉ mang chức năng nghi lễ, văn khấn còn chứa đựng những giá trị nghệ thuật đặc sắc, phản ánh tư duy thẩm mỹ và khả năng sáng tạo của cộng đồng. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện đại hóa, loại hình này đang đứng trước nguy cơ mai một, đòi hỏi những nghiên cứu có hệ thống nhằm nhận diện và bảo tồn. Bài viết này tập trung làm rõ các giá trị nghệ thuật tiêu biểu của văn khấn Bahnar, Jrai ở Gia Lai, qua đó góp phần khẳng định vị trí của loại hình này trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam.

Người Bahnar, Jrai gắn bó lâu đời với núi rừng hoang sơ, thiên nhiên hùng vĩ, chính vì vậy, họ đã tạo dựng được một nền văn học dân gian phong phú, đặc sắc trong đó có loại hình văn khấn. Đây là những lời cúng được đọc lên, hát lên trong các lễ thức truyền thống nên còn được gọi là dân ca nghi lễ. Các bài khấn là hồn cốt của mỗi lễ thức truyền thống, thể hiện niềm tin sâu sắc vào thế giới thần linh, được coi là một loại hình văn hóa phi vật thể đặc sắc của dân tộc Bahnar, Jrai. Người Bahnar, Jrai dùng lời khấn làm phương tiện giao tiếp, biểu đạt ý nghĩ, mong muốn, khát vọng của mình với thế giới thần linh. Theo tiến trình phát triển của đời sống văn hóa xã hội, lời khấn không chỉ dừng ở chỗ diễn tả câu chữ nôm na mà dần trở nên tinh tế mang tính nghệ thuật cao có bố cục, hình ảnh, vần điệu trở thành những BÁI KHẤN. Lễ thức nào thì có bài khấn của lễ thức ấy. Cùng một lễ thức nhưng mỗi bài khấn ở mỗi buôn, làng lại khác nhau tạo nên sự phong phú đa dạng như những bài thơ độc lập. Chính vì thế nhà nghiên cứu Ngô Văn Doanh đã cho rằng: “ Lời cúng bỏ mả - một loiaj hình văn học dân gian đặc biệt”. Tuy vậy các thủ pháp nghệ thuật của các bài khấn tương đối giống nhau tạo nên những giá trị sau:

2. Các giá trị nghệ thuật của văn khấn

2.1. Giá trị nghệ thuật về cấu trúc

         Văn khấn có cấu trúc chặt chẽ gồm ba phần: mở đầu, nội dung chính và kết thúc.     Mở đầu là lời mời gọi thần linh (Yang), thể hiện sự tôn kính và hiểu biết về hệ thống thần linh. Ví dụ trong lễ thức Cúng trâu tạ ơn ở xã Kông Bơ La thì phần đầu của bài khấn là mời những vị thần cao nhất: thần trên trời, thần dưới đất và cả những thần mang tính chất tổng quát xấu/tốt: “Ơ Yang/Yang xấu, yang tốt/Yang trên trời, Yang dưới đất”. Khi cúng Mừng nhà rông mới thì nghệ nhân lại mời các Yang liên quan đến nhà cửa là chính: “Ơ Yang! Các yang đẹp yang xấu/Các yang ông yang bà/Các yang nhà yang cửa…”. Trong lễ thức cúng trẻ sơ sinh thì lại có các yang liên quan đến đứa trẻ: “Ơ yang sức khỏe, yang sữa bầu, yang cuống rốn”. Trong lễ thức bỏ mả thì gọi các atâu: “Ơ ma cũ, ma mới”. Trong đám cưới thì gọi: “Ơ yang/Yang ông mai bà mối/Yang đã kết nối hai người thành lứa thành đôi…”. Chỉ cần qua phần mở đầu người nghe đã có thể đoán được hôm nay đang tổ chức lễ thức gì. Những vị thần được mời gọi ít nhiều đều có trách nhiệm to lớn hoặc liên quan đến lễ thức ấy. Tùy theo mức độ to/nhỏ của lễ thức mà mới những vị thần có vị trí, uy tín, sức mạnh tương ứng với lễ thức dó. Ví dụ trong lễ thức cộng đồng thường có quy mô lớn thì không thể không mời các vị thần cai quản vụ trụ (Bok Kei Dei), các thần sông, thần núi, thần làng. Ngược lại nếu lễ thức nhỏ mà mời các vị thần lớn thì rõ ràng không tương xứng, thần linh sẽ tự ái, trách phạt, lần sau không đến nữa. Vì vậy, việc mời gọi, chuẩn  bị cho cuộc giao tiếp cũng chính là thể hiện sự hiểu biết, trân trọng các vị thần.

          Thân bài trình bày mục đích lễ thức và bộc lộ ước vọng (sức khỏe, mùa màng, no đủ). Đây là phần thể hiện nội dung chính của lễ thức. Lời khấn sẽ báo cho các thần biết mục đích chính của lễ thức này là gì. Ví dụ như lễ Tạ ơn thì nhớ đến công lao của các thần nên tổ chức lễ để cám ơn công lao đó: “Nhớ khi xưa cha ông/Cầu các yang cho no đủ”. Lễ cúng sân nhà rông thì nói: “Chúng tôi mời thần tốt đến gần/ Chúng tôi đuổi thần xấu đi xa/ Chúng tôi cúng thần SÂN/ Chúng tôi muốn làm nhà mới…/ Chúng tôi mổ heo mổ gà để cúng thần SÂN…”. Hay khi làm lễ thức đóng cửa kho: “…Chúng tôi cúng yang rẫy/ Chúng tôi cúng yang lúa/ Hôm nay chúng tôi đóng cửa kho…”. Hay khi làm lễ thức đầy tháng lời khấn nói rõ: “ Đứa trẻ sinh ra rồi/ Hôm nay đầy tháng/ Cuống rốn đã rơi/ Đứa trẻ chào đời/ Cầu mong luôn luôn khỏe mạnh”.

      Khi đã nói rõ mục đích của lễ thức, bài khấn sẽ bộc lộ ước muốn của cộng đồng hoặc gia đình, cá nhân. Ước muốn này có lúc được hòa quyện trong việc ghi nhận công lao giúp đỡ của các vị thần: “Nhớ khi xưa cha ông/ Cầu các yang cho no đủ/Trồng lúa được  lúa/ Trồng khoai được khoai/ Nuôi một trâu được hai/ Nuôi một dê được chục/ Nuôi heo heo tròn ủng/ Nuôi gà gà đầy đàn…”. Có lúc nói thẳng như trong lễ Cúng hồn lúa: “Cầu mong các yang giữ yên hồn lúa/ Cho cuộc sống chúng tôi no đủ/ Dồi dào thức ăn”. Hay trong lễ trỉa hạt, niềm mong ước không hề giấu diếm: “Cầu mong yang cho bắp, lúa rau được mùa/ Mọc đầy các hố/ Trổ đủ hạt gốc/ Dù ban ngày lá đăng/ Dù ban đêm lá đá/ Dù mưa tới đêm nay/ Tới ngày hạt giống vẫn mọc đầy.”… Hay trong lễ Mừng nhà rông mới cũng vẫn là mơ ước đó: “Cầu xin các yang/ Cho buôn trên làng dưới/ Đều có ăn có uống/ Có lúa, có hạt kê, có khoai, bắp, củ mì/ Cho chúng tôi nuôi heo heo đầy đàn/ Nuôi gà gà đầy sân/ Con người dồi dào sức khỏe…”. Ở thời đại nào, dân tộc nào thì ước mong sức khỏe, ước mong cuộc sống ấm no hạnh phúc cũng được đặt lên hàng đầu. Với dân tộc Bahnar, Jrai niềm mong ước đó càng tha thiết, cháy bỏng hơn vì cuộc sống lao động sản xuất hoàn toàn phụ thuộc vào thiên nhiên. Họ luôn ước ao năm đó mưa thuận gió hòa, có đủ lúa, mì, khoai, bắp… không lo bị đói. Gia súc, gia cầm không bị ốm đau, dịch bệnh. Đây là ước mơ chính đáng. Chính vì vậy họ nhờ cậy vào sức mạnh siêu nhiên, tin vào sự giúp đỡ che chở của thần linh. Lời khấn góp phần nâng cao sức mạnh tinh thần, giúp con người vượt qua mọi khó khăn gian khổ. 

Kết thúc là lời tạ ơn hoặc khẳng định sự hiến tế. Con người đã hiến tế các con vật (trâu, heo, gà) cùng loại nước uống ngon nhất (rượu ghè). Và dường như các thần đã nghe được sự cầu xin của con người, đã đồng ý giúp đỡ nên con người nhắc lại, khẳng định lại: “Các người ăn gan, tiết lợn đây rồi/ Chúng tôi muốn khấn như thế” (Sơmăh Kơcham). “Chúng tôi cúng lợn gà cởi nợ cho cả làng/ Yang lấy lợn gà của cả làng rồi nhé/ Xin hãy bằng lòng cho”. Có khi  bài khấn kết thúc không cần phải khẳng định mà chỉ là sự cám ơn : “ Chúng tôi cám ơn nhờ thần phù hộ/ Cho chúng tôi làm cái rẫy thật to”. Tuy vậy ai cũng hiểu là sự việc đã kết thúc, chắc chắn các vị thần sẽ ủng hộ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất hoặc  đáp ứng nhu cầu của con người. 

Cấu trúc này thể hiện tư duy logic, mạch lạc, đồng thời phản ánh quan niệm giao tiếp “có đầu, có cuối” với thần linh.

2.2. Giá trị về thể loại và tính thi ca

          Để phục vụ cho lễ thức nên mỗi bài khấn thường có nội dung đơn giản, rõ ràng. Lễ thức nhằm mục đích gì thì nội dung bài khấn cũng thể hiện, bám sát nội dung đó. Trừ phần mở đầu kêu gọi, mời tên các vị thần khác nhau (thần trời, thần đất, thần sông thần núi hoặc chỉ là thần nương rẫy, thần lúa hoặc chỉ là thần ông bà cha mẹ, thần sức khỏe…) và lý do tổ chức lễ khác nhau (Cúng đầu năm hoặc cúng bến nước hoặc cúng thổi tai hoặc cúng trỉa lúa…) thì bài khấn nào cũng thể hiện nội dung giống nhau: muốn có sức khỏe, cuộc sống đầy đủ, no ấm và cầu mong các vị thần phù hộ, giúp đỡ để ước muốn đó trở thành sự thật. Nhưng nếu chỉ nói nôm na, quẩn quanh như vậy thì các bài khấn đã không thể trở thành văn khấn, không được coi là một loại hình văn học. Có được vị trí này chính là lời khấn được sắp đặt trên dưới như những câu thơ. Nói về sự nhàn rồi để chuẩn bị cho lễ thức Ăn cốm mới: “Chúng tôi không ra nương ra rẫy/Chúng tôi không vào rừng chặt cây/Chúng tôi không làm này làm nọ/ Chúng tôi mời các yang đến ăn cốm mới…ơ (Ăn cốm mới,  Đinh Tươch - xã Kông Bơ La. Y Tư  dịch). Chỉ là sự liệt kê một số con thú hay ăn hạt giống cũng được sắp đặt thành khổ thơ: “Chim sẻ ở trong tổ/ Bầy kiến ở trong ổ/Con sóc ở trong bụi rậm/Con nhím ở bụi cây/Con chuột ở nơi xa/ Đừng đào bới ăn hạt giống của ta (Vào mùa gieo trồng, Lê Kim Tương dịch). Còn đây, rõ ràng là những đoạn thơ: “Xuống hạt giống ở đâu cũng nảy mầm/Hạt rơi cũng mọc/Hạt vãi cũng sinh sôi/Hạt bắn tung tóe cũng lên thành cây cỏ tốt tươi/ Mùa sau càng bội thu no ấm”... (Đóng cửa kho, Đinh Xăm - Xã Kông Bơ La, Y Tư dịch). Hay chỉ là lời cầu khẩn cũng thành đoạn thơ: “Cầu các yang cho no đủ/Trồng lúa được lúa/Trồng khoai được khoai/Nuôi một trâu được hai/Nuôi một dê được chục/Nuôi heo heo tròn ủng/Nuôi gà gà đầy đàn…”. Trong bài khấn, mỗi lời khấn đứng riêng cũng đã thấy phảng phất âm điệu thơ ca bởi sự ngắn gọn, vần vè: “Hôm nay chúng tôi chọn ngày thảnh thơi/ Chúng tôi không bận bắt cá, không bận bẫy chim…”. Bài khấn đã sử dụng thể loại thơ hoặc văn vần (tiếng Bahnar gọi là Pơtuk, tiếng Jrai là Pơdok hay Pơduk). Có nhiều cách nói vần nhưng phổ biến trong văn khấn là dùng vần lưng và vần chân … “Hỡi thần!/          Sợ hồn lúa này bị nhiều chim ăn, rụng nhiều hạt, rơi rớt nhiều giữa đường/Sợ nhiều chim Cu bới, chim sẻ tha/Này đây, chúng tôi cúng một ghè rượu, một con gà để đưa hồn lúa về tận kho,  tận chòi, tận nhà tránh hồn phiêu phách lạc/Cầu mong thần hãy phù hộ đưa hồn lúa về tận kho, tận chòi, tận nhà”. hay “Một năm dù chỉ có một tháng một ngày/ Dù thu hoạch được một vốc tay hay một gùi hay đầy kho/Chúng tôi vẫn mời các yang chung vui thưởng thức…” (Ăn cốm mới, Đinh Tươch - xã Kông Bơ La. Y Tư  dịch).  Đây là cách nói trong lễ Đóng cửa kho: “Lấy lúa ra khó nhọc như đào đất/Lấy lúa ra chật vật như xúc sỏi/Lấy bao nhiêu kho lúa vẫn tràn đầy…” (Đóng cửa kho - Lê Kim Tương dịch). Để cho vần, rất nhiều câu mang tính chất đối xứng như thế này: “Từ nay ăn một mâm, ngủ một chiếu” (Cúng Đám cưới).

          Có thể thấy, văn khấn mang đậm đặc trưng của văn vần và thơ ca dân gian với dạng câu ngắn, có nhịp điệu. Sử dụng vần lưng, vần chân. Có tính đối xứng và nhịp điệu rõ ràng. Nhờ đó, văn khấn không chỉ là lời cầu cúng mà còn mang giá trị thẩm mỹ, dễ nhớ, dễ truyền miệng, gần với hình thức thơ tự do.

2.3. Giá trị hình ảnh nghệ thuật

         Bài khấn thể hiện hàng loạt hình ảnh độc đáo, sinh động của núi rừng. Đó là chim muông, hoa lá, cây cỏ, động vật. Và chỉ có người dân tộc thiểu số gắn bó với thiên nhiên mật thiết mới nhìn ra sự tương đồng giữa các hiện tượng sự vật để làm phép so sánh vừa độc đáo vừa ngộ nghĩnh: “Nuôi gà gà đầy sân/Nuôi heo heo thành đàn đông như kiến như mối”. Để diễn tả tâm trạng vui sướng, hoan hỉ, bài khấn đã thể hiện trạng thái bằng những hình ảnh rất mới lạ nhưng đầy sức thuyết phục: “Hôm nay chúng tôi mở miệng như con cá phồng mang/ Chúng tôi mở lưỡi như con cá há miệng/ Cho lời của chúng tôi bay thật xa/Cho lời của chúng tôi vang thật to/Cho tất cả các yang đều biết/ Chúng tôi đã làm xong nhà rông…”.  Người Bahnar, Jrai biết sử dụng rất nhiều cách luyến láy từ ngữ kết hợp với hình ảnh cụ thể cùng cách nói ngoa mang lại hiệu quả cao nhất: “Ăn đầy cằm/Ăn ngập lưỡi/Ăn no không thở nổi…”. Đây là hình ảnh ấm no hạnh phúc đã được nhân cách hóa gây ấn tượng sâu sắc, bất ngờ: “Đau ốm đứng ở sau lưng/Đói nghèo dừng chân ngoài cổng…”, hay “Cái đói cái khát đi về đằng sau/Cái no cái ấm đi về đằng trước/Mưa lâm thâm cũng ướt/Mưa xa cũng thấm tới nơi/Cuộc sống mới như cây cỏ tốt tươi”.

Khi miêu tả sự việc người Bhanar, Jrai không đi thẳng vào vấn đề mà chọn cách diễn tả những chi tiết nhỏ để khái quát lên hình ảnh lớn. Đây là cảnh làm nhà rông trong bài khấn “Mừng nhà rông mới”. Nếu chỉ nói nhà rông của chúng tôi rất to, rất đẹp thì ngắn gọn, đơn giản quá, không còn gì là gợi hình, xúc cảm. Lời khấn đã diễn tả thế này: “Chúng tôi cuốc cỏ để làm sân thật to/Chúng tôi muốn đo chiều rộng chiều dài cho thật thẳng/Chúng tôi đo chiều sâu đào hố cho thật sâu/Chúng tôi muốn chôn cột nhà cho chắc/Lắp ráp cột kèo cho đẹp/Cả làng chung tay cùng làm/ Họ hàng nơi xa sang giúp/Anh em ở gần cùng mừng”. Người nghe hình dung được ngay nhà rông đó hẳn là to, là đẹp vì nó có sân to, có hàng cột thẳng, các hố chôn cột được đào sâu chắc chắn. Đông đúc người làm như thế hẳn là có rất nhiều việc, hẳn là không khí rất nhộn nhịp, đông vui. Quang cảnh làm nhà rông bỗng trở nên náo nhiệt, sống động trước mắt. Khi diễn tả ước muốn có nhiều lúa ngô khoai bắp người Bhanar, Jrai chọn cách nói vòng vo dần dần mang lại nhiều cảm xúc hơn cho người nghe: “Chúng tôi muốn có lúa thật nhiều/Chúng tôi muốn có bí bầu khắp rẫy/Con sóc, con chim không đến ăn/Con chuột, con nhím không đến gặm/Con nai con mang không vào phá/Hạt kê chín đầy ở rẫy xa/Bắp đua đẻ nhánh khắp rẫy gần…”. Cũng là mong muốn có cuộc sống ấm no nhưng đây là cách diễn tả khác: “Trồng lúa lúa cong lưng hạt mẩy/Trồng cây quả lúc lỉu đầy cành/Nuôi gà gà đầy sân/Nuôi heo heo thành đàn đông như kiến như mối/Hạt rơi cũng tự nảy mầm/Hạt rớt cũng lên cây ra hoa kết quả…”. Cũng có lúc chỉ cần phác qua vài hình ảnh chọn lọc, miêu tả trực diện mà đã làm hiện lên một thiên nhiên thật tươi đẹp, lộng lẫy. “Nơi đó đất đai bằng phẳng đẹp đẽ phì nhiêu/Có vườn cam thơm ngọt cho ma ăn...” (Bỏ mả - Ngô Văn Doanh sưu tầm).

Hình ảnh trong văn khấn phong phú, gắn với thiên nhiên Tây Nguyên.Các phép so sánh, nhân hóa tạo nên hình ảnh sinh động “Heo đông như kiến như mối”, “Đói nghèo đứng ngoài cổng”…Những hình ảnh này phản ánh tư duy trực quan, giàu cảm xúc của cư dân nông nghiệp Bahnar, Jrai.

2.4. Nghệ thuật sử dụng điệp ngữ

        Văn khấn đã sử dụng một trong những thủ pháp nghệ thuật quen thuộc là dùng điệp ngữ nhằm tăng giá trị diễn đạt. Các từ hoặc cụm từ hoặc cả câu trong bài khấn được lặp đi lặp lại theo nhiều cách: điệp nối tiếp, điệp ngắt quãng hoặc điệp vòng. Với việc sử dụng nhuần nhuyễn này tính gợi hình, gợi cảm trong các bài khấn được tăng lên rất nhiều. Nó tạo nên nhạc điệu, khắc họa tâm trạng, hình ảnh sâu sắc trong bài khấn. Câu khấn có nhạc tính, uyển chuyển, dễ nghe, dễ nhớ.

         Đây là hình ảnh mở đầu trong bài khấn Cúng nhà rông: “Hôm nay chúng tôi mở miệng như con cá phồng mang/Chúng tôi mở lưỡi như con cá há miệng/Cho lời của chúng tôi bay thật xa/Cho lời của chúng tôi vang thật to/Cho tất cả các yang đều biết”. Cuối bài khấn hình ảnh này lại được nhắc lại nhưng ở cấp độ khác tác động vào tâm trí người nghe sâu hơn, rõ rệt hơn: “Ớ yang/Chúng tôi mở miệng như con cá phồng mang/ Chúng tôi mở lưỡi như con cá há miệng/Cho lời lời thoát ra/Cho các yang nghe rõ…”. Đây là đoạn thơ nói về công lao của các yang đã giúp đỡ cho thế hệ trước: “Trồng lúa được lúa/Trồng khoai được khoai/Nuôi một trâu được hai/Nuôi một dê được chục/Nuôi heo heo tròn ủng/Nuôi gà gà đầy đàn”…. Đoạn thơ này đã được nhắc lại nguyên văn khi thế hệ sau cấu xin các yang giúp đỡ cho mình, khẳng định họ chỉ cần các yang cứ tiếp tục thế thôi. Được như thế cũng là ơn huệ to lớn lắm, hạnh phúc lắm. Hay những câu trong bài Dọn rẫy cũng là một cách nói vần: “Đây là nơi con chọn đất làm rẫy/Nếu yang không cho thì báo điềm xấu/Nếu yang đồng ý thì báo điềm lành/Xin yang chở che cho con đất tốt”. Khi cần, người khấn cũng nhắc đi nhắc lại: Chúng tôi mới có lúa đầy kho/Chúng tôi mới có bắp đầy chòi” để khẳng định rõ ràng hơn mong ước của mình. Đây là lời khấn khi cầu xin ma: “Xin ma hãy phù hộ cho chúng tôi cầm rìu cầm rựa cầm dao cho chắc/Khỏi bị chặt vào chân vào tay/Xin ma phù hộ cho chúng tôi cầm ché bát, bung nồi, ghè cho chắc khỏi làm rơi vỡ/Xin ma đừng quá vui mà bắt trâu bò, heo, gà và người của chúng tôi/Xin ma đừng đụng đến lúa, bắp, kê, mì của chúng tôi .  Từ “Xin ma” được lặp đi lặp lại nhiều lần thể hiện sự khẩn cầu thành tâm, tha thiết. Người Bahnar, Jrai tin rằng khi chết con người sẽ được hóa kiếp. Lễ Bỏ mả là lúc người chết đã hóa kiếp xong: “Các anh đã thành con hổ có vuốt sắc/Thành con mang có bộ chân chạy nhanh”. Sau một hồi diễn tả việc người sống đã làm đầy đủ lễ nghĩa chu đáo cho người chết, bài khấn nhắc lại sự hóa kiếp: “Các anh đã thành con chim trên cao, con sâu dưới đất/Thành con hổ có vuốt sắc/ Thành con mang có bộ chân chạy nhanh”. Điệp ngữ này một lần nữa làm rõ hơn trạng thái của người chết. Họ đã hết thời gian ở cõi trần, cần phải đi về nhà mới, thế giới mới, chỗ ở mới dành cho ma.

       Từ khi cất tiếng khóc chào đời, đến tuổi trưởng thành, khi dựng vợ, gả chồng hay đến lúc chết, người Bahnar, Jrai đều có những bài khấn. Bài khấn còn theo suốt hành trình vòng đời, trong lao động sản xuất, trong sinh hoạt giải trí giúp con người có thêm sức mạnh tinh thần, thêm niềm tin vào thần linh và bản thể để vượt qua mọi khó khăn vất vả, thêm nhiều nghị lực, tự tin để chống trọi với những bất trắc trong thiên nhiên.

          3. Kết luận

          Văn khấn của người Bahnar, Jrai ở Gia Lai là một loại hình văn học dân gian giàu giá trị nghệ thuật, thể hiện rõ nét tư duy thẩm mỹ và đời sống tâm linh của cộng đồng. Với cấu trúc chặt chẽ, ngôn ngữ giàu nhạc tính, hình ảnh sinh động và thủ pháp tu từ đặc sắc, văn khấn xứng đáng được xem là một di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo tồn và phát huy./.

                                                                                                              

 

 


 


Ông Ksor Thuông (ơi H' Que), buôn Ji, xã Ia Dreh trong lễ cúng trưởng thành của người Jrai.




 

VAI TRÒ CỦA HỘI VIÊN HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM TẠI GIA LAI
TRONG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

                                                              Hoàng Thanh Hương

Tại Gia Lai - vùng đất biển - rừng hội ngộ, giàu truyền thống cách mạng, đa dạng bản sắc văn hóa các dân tộc, các hội viên Hội Nhà văn Việt Nam đang sinh hoạt, sáng tác đã và đang khẳng định vai trò đặc biệt của mình trong việc góp phần giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng bằng chính sức mạnh của văn học.

Kiên định nền tảng tư tưởng - từ nhận thức chính trị đến hành động sáng tạo

Sau khi thực hiện Quyết định số 105/QĐ-HNV ngày 21/7/2025 của Hội Nhà văn Việt Nam về việc sáp nhập hai chi hội Gia Lai và Bình Định, Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Gia Lai hiện có 24 hội viên, trong đó 13 hội viên khu vực Bình Định, 10 hội viên khu vực Pleiku (Gia Lai cũ) và 01 hội viên tại Phú Yên. Đây là lực lượng sáng tác chuyên nghiệp, hoạt động ở nhiều thể loại: thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, bút ký, lý luận phê bình, nghiên cứu văn hóa dân gian, kịch bản sân khấu, điện ảnh… hội viên chấp hành nghiêm Điều lệ Hội, giữ vững bản lĩnh chính trị và trách nhiệm công dân, đoàn kết, nghiêm túc sáng tác.

Có thể thấy, tinh thần của Nghị quyết 35-NQ/TW của Bộ Chính trị đã được cụ thể hóa trong từng tác phẩm, từng đề tài sáng tác. Chỉ tính riêng năm 2025, các hội viên đã xuất bản 15 đầu sách, gồm: 03 tập thơ, 04 tập truyện ngắn, 04 tiểu thuyết, 03 tập bút ký, nhật ký, 01 kịch bản sân khấu. Nội dung nhiều tác phẩm tập trung vào các chủ đề: học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; truyền thống cách mạng; lực lượng vũ trang; công cuộc đổi mới; bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số Tây Nguyên... Đây chính là những mạch nguồn đề tài trực tiếp góp phần củng cố niềm tin xã hội, phản bác luận điệu xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng.

Tác phẩm có chiều sâu tư tưởng - minh chứng bằng giải thưởng

Năm 2025, hội viên chi hội đạt hơn 20 giải thưởng văn học các cấp, là con số biết nói về chất lượng sáng tác và hiệu quả lan tỏa tư tưởng tích cực trong đời sống xã hội. Tiêu biểu: Nhà thơ Lê Vi Thủy đạt 4 giải thưởng, trong đó có: Giải Nhất Cuộc thi Truyện ngắn Sông Hương (2024 - 2025); Giải B Cuộc vận động sáng tác truyện ngắn và ký “Công an nhân dân - 80 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành”; Giải Khuyến khích Giải thưởng quảng bá tác phẩm văn học nghệ thuật về chủ đề “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”.  Nhà văn Lê Thị Kim Sơn đạt 4 giải thưởng, gồm: Giải Khuyến khích cuộc vận động sáng tác về học tập và làm theo Bác; Giải C cuộc thi “Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống” lần thứ V; Giải Ba cuộc thi “Việt Nam trong tôi”. Nhà văn Hoàng Thanh Hương đạt 4 giải thưởng, trong đó có 2 Giải B cấp Trung ương về chủ đề học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh (thể loại truyện ngắn và kịch bản phim tài liệu); Giải B cuộc thi truyện ngắn và thơ tỉnh Bình Định; Giải Khuyến khích Giải thưởng Khoa học - Công nghệ tỉnh Gia Lai về đề tài bảo tồn tượng gỗ dân gian Bahnar, Jrai. Nhà thơ Vân Phi đạt 5 giải thưởng, trong đó có Giải A cuộc thi viết bút ký về lực lượng vũ trang tỉnh; Giải Nhất mảng bút ký về LLVT. Nhà văn Phạm Đức Long đoạt Giải C cuộc vận động sáng tác “Công an nhân dân - 80 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành”. Nhà thơ Triều La Vỹ đạt Giải C, Cuộc thi thơ "Thơ ca và Nguồn cội" lần thứ III do Làng chùa tổ chức 2025… Ngoài ra, các nhà văn, nhà thơ: Văn Công Hùng, Thu Loan, Trịnh Đào Chiến, Phạm Đức Long, Hoàng Thanh Hương, Lê Vi Thủy, Ngô Thanh Vân… được trao Bằng khen của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai vì những cống hiến trong 50 năm - Văn học nghệ thuật tỉnh Gia Lai sau ngày thống nhất đất nước. Những giải thưởng ấy không chỉ là thành tích cá nhân từng nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu phê bình lý luận văn học, mà là minh chứng cho việc văn học Gia Lai đang tích cực tham gia vào mặt trận tư tưởng - văn hóa, góp phần khẳng định giá trị cách mạng, lan tỏa hình ảnh đẹp của con người Gia Lai nói riêng Việt Nam nói chung trong thời kỳ mới.

Gắn văn học với thực tiễn chính trị - xã hội

Tinh thần của Nghị quyết 35-NQ/TW yêu cầu “kết hợp chặt chẽ giữa xây và chống; lấy xây là chính”. Đối với văn học, “xây” chính là sáng tạo những giá trị tích cực, những hình tượng nhân vật tiêu biểu của thời đại. Các hội viên Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Gia Lai đã tích cực tham gia: Hội thảo “50 năm Văn học nước nhà”; Trại sáng tác VHNT do Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam tổ chức tại Pleiku, Đà Nẵng; Tọa đàm “Viết văn trẻ - Văn học Tây Nguyên đương đại”; Các hội thảo khoa học về di sản Hán Nôm, về di tích Plei Ơi, về bảo tồn văn hóa dân tộc thiểu số.  Thông qua hoạt động thực tế, nhiều tác phẩm ra đời phản ánh chân thực đời sống đồng bào Bahnar, Jrai; khắc họa hình ảnh lực lượng vũ trang; tôn vinh già làng, cán bộ cơ sở; phê phán hủ tục lạc hậu và những biểu hiện tiêu cực. Chính sự gắn bó mật thiết với thực tiễn đã giúp tác phẩm có sức thuyết phục, tạo “lá chắn mềm” trước các luận điệu kích động chia rẽ dân tộc, lợi dụng vấn đề tôn giáo, nhân quyền để chống phá.

Văn học - “sức mạnh mềm” trong đấu tranh phản bác

Không gian mạng đang trở thành mặt trận phức tạp. Các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề lịch sử, dân tộc, tôn giáo, đất đai… để xuyên tạc, kích động. Trong bối cảnh đó, văn học giữ vai trò đặc biệt: Khẳng định giá trị lịch sử và truyền thống cách mạng bằng hình tượng nghệ thuật. Tôn vinh vẻ đẹp con người mới xã hội chủ nghĩa. Góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Một tiểu thuyết viết về chiến sĩ công an; một tập truyện ngắn, một kịch bản phim về học tập và làm theo Bác; một bút ký về lực lượng vũ trang hay một công trình nghiên cứu bảo tồn giá trị tượng gỗ dân gian Bahnar… tất cả đều là những viên gạch góp phần xây dựng thành trì tư tưởng ngày càng vững chắc trên mặt trận văn hóa, văn học chống lại các thế lực thù địch. Văn học không ồn ào phản bác, nhưng bằng chiều sâu thẩm mỹ và cảm xúc, nó khiến cái đúng trở nên thuyết phục, cái tốt trở nên lan tỏa, từ đó làm suy yếu dần các quan điểm sai trái.

Xây dựng lực lượng kế cận - bảo đảm tính bền vững

Chi hội hiện nay có sự tham gia của nhiều cây bút trẻ như: Trương Công Tưởng, Vân Phi, Lê Vi Thủy, Lê Kim Sơn, Ngô Thanh Vân… Sự trẻ hóa lực lượng không chỉ tạo sinh khí mới cho hoạt động sáng tác mà còn bảo đảm tính kế thừa về tư tưởng. Việc tổ chức tọa đàm, trại sáng tác trẻ, giới thiệu hội viên mới cho Hội Nhà văn Việt Nam là bước đi quan trọng nhằm bồi dưỡng thế hệ cầm bút có bản lĩnh chính trị, có lý tưởng và trách nhiệm xã hội - đúng tinh thần “chủ động phòng ngừa, đấu tranh từ sớm, từ xa” mà Nghị quyết 35 đề ra.

Còn đó những khó khăn và nguyện vọng

Sau sáp nhập hai chi hội Gia Lai và Bình Định thành Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Gia Lai, bên cạnh những thuận lợi về mở rộng không gian sáng tạo và giao lưu chuyên môn, vẫn bộc lộ không ít hạn chế. Địa bàn hoạt động rộng, trải dài qua nhiều khu vực (Gia Lai, Bình Định, Phú Yên), khiến việc tổ chức sinh hoạt tập trung, tọa đàm chuyên đề, góp ý bản thảo gặp khó khăn do khoảng cách địa lý và điều kiện đi lại. Kinh phí hoạt động chưa ổn định, chi hội chủ yếu tự vận động, tự cân đối nguồn lực nên chưa thể tổ chức thường xuyên các chuyến đi thực tế dài ngày hoặc hội thảo quy mô lớn. Một số hội viên lớn tuổi, sức khỏe hạn chế; đời sống của một bộ phận tác giả còn khó khăn, ảnh hưởng đến cường độ sáng tác. Về đội ngũ sáng tác, tuy có sự bổ sung lực lượng trẻ, tạo sinh khí mới, nhưng cơ cấu thế hệ và thể loại chưa thật sự đồng đều; lực lượng lý luận phê bình còn mỏng; sáng tác cho thiếu nhi và văn học mạng chưa nhiều. Đề tài sáng tác những năm qua tập trung khá mạnh vào mảng truyền thống cách mạng, lực lượng vũ trang, học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo tồn văn hóa dân tộc thiểu số - đây là hướng đi đúng đắn, song cũng đặt ra yêu cầu phải tiếp tục đổi mới bút pháp, làm mới cách tiếp cận hiện thực, tránh lặp lại mô-típ quen thuộc, nâng cao tính phát hiện và chiều sâu tư tưởng - nghệ thuật. Trong bối cảnh thực hiện tinh thần của Nghị quyết 35-NQ/TW, việc nâng cao chất lượng tác phẩm, tăng cường những sáng tác có tầm khái quát lớn, có khả năng lan tỏa trên không gian mạng và trong đời sống xã hội là yêu cầu cấp thiết, nhằm để văn học thật sự trở thành “sức mạnh mềm” vững chắc trên mặt trận tư tưởng - văn hóa.

Sau sáp nhập, Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Gia Lai đứng trước yêu cầu vừa ổn định tổ chức, vừa nâng cao chất lượng sáng tác để đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Vì vậy, cần triển khai một số giải pháp trọng tâm, đồng bộ và thiết thực.

Trước hết, củng cố nền nếp sinh hoạt chi hội theo hướng linh hoạt, kết hợp trực tiếp và trực tuyến nhằm khắc phục khó khăn về địa lý. Tăng cường sinh hoạt chuyên đề, tọa đàm về đề tài chính trị - tư tưởng, góp ý bản thảo để nâng cao chất lượng tác phẩm. Đồng thời, đẩy mạnh các chuyến đi thực tế sáng tác tại vùng sâu, vùng xa, biên giới, đảo xa, đơn vị lực lượng vũ trang, giúp nhà văn bám sát đời sống, có chất liệu chân thực, giàu tính phát hiện.

Thứ hai, định hướng mở rộng và làm mới đề tài sáng tác. Bên cạnh mảng truyền thống cách mạng, học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh, cần chú trọng phản ánh công cuộc đổi mới, chuyển đổi số, xây dựng nông thôn mới, khát vọng phát triển kinh tế - xã hội của con người Gia Lai trong thời kỳ hội nhập. Quan tâm sáng tác cho thiếu nhi, văn học trẻ, tạo sức lan tỏa trong thế hệ mới.

Thứ ba, xây dựng lực lượng kế cận và tăng cường chuyển đổi số. Chủ động phát hiện, bồi dưỡng cây bút trẻ; cây bút là người dân tộc thiểu số, quảng bá tác phẩm trên các nền tảng số chính thống, tạo thế chủ động trên mặt trận tư tưởng - văn hóa.

Thứ tư, kiến nghị các cấp quan tâm cơ chế, kinh phí hỗ trợ sáng tác, tổ chức giải thưởng định kỳ, xuất bản tuyển tập chung, đặt hàng tác giả uy tín, khen thưởng đột xuất các tác giả đạt giải thưởng quốc tế, quốc gia từ Giải C trở lên kịp thời… qua đó tạo động lực để đội ngũ nhà văn Việt Nam tại tỉnh tiếp tục cống hiến, góp phần giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng bằng sức mạnh của văn học.

Kết luận

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không phải là nhiệm vụ riêng của cơ quan lý luận hay báo chí chính thống, mà là trách nhiệm chung của toàn hệ thống chính trị và của mỗi công dân yêu nước. Đối với đội ngũ hội viên Hội Nhà văn Việt Nam tại Gia Lai, trách nhiệm ấy được thể hiện bằng: 24 hội viên đoàn kết, thống nhất; 15 đầu sách xuất bản trong năm 2025; Hơn 20 giải thưởng văn học các cấp; Nhiều tác phẩm, tham luận, công trình nghiên cứu góp phần khẳng định giá trị cách mạng và bản sắc văn hóa Tây Nguyên. Giữa sự phối hợp của ngàn bazan và biển xanh cát trắng nắng vàng mênh mông hùng vĩ, đội ngũ của các nhà văn Việt Nam tỉnh Gia Lai về chung một nhà sau sáp nhập vẫn lặng lẽ nhưng bền bỉ viết và viết. Mỗi trang viết là một viên gạch xây dựng niềm tin; mỗi tác phẩm có giá trị là một minh chứng cho sức mạnh của văn hóa trong sự nghiệp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hôm nay và tương lai.

Văn học, bằng con đường riêng của mình, đã, đang và sẽ tiếp tục góp phần giữ vững trận địa tư tưởng - văn hóa, củng cố khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc./.







                                                                                     

 

1.03.2023

 


Những buổi chiều không buồn

  Truyện ngắn Hoàng Thanh Hương

 

Không phải buổi chiều nào cũng buồn, không phải buổi chiều nào cũng ồn ã với bao hưởng thụ cuộc sống hiện đại. Có những buổi chiều nàng nhận ra mình chẳng buồn, chẳng vui. Tâm trạng không rõ ràng nhưng rất cô đơn. Bây giờ con người cô đơn. Cô đơn ngay giữa đám đông. Cuối tuần, một đám bạn thân rủ nhau cà phê. Ngồi sát bên nhau mỗi đứa một cái điện thoại lướt web, like facebook, xem hình ảnh lạ, xem những video hot... Đôi khi muốn quay sang khều khều, nói một câu giao thoại cho có không khí bên nhau xong lại thôi. Lại là lặng im, lại chúi mặt vào cái màn hình xanh lét, lướt và lướt. Nàng ngắm nhìn những khuôn mặt chăm chú, những nụ cười hờ hững, những đối thoại rời tã như cơm nguội phải nước. Buổi sáng trôi trong nỗi buồn bã mơ hồ.

Ở nhà, một kiến trúc 7 phòng. Phòng khách rộng thênh, bàn ghế bày biện sang trọng, ti vi màn hình phẳng 32 inch nhưng chẳng mấy khi cả gia đình ngồi đủ 4 người. Có ngồi thì chồng xem tivi, vợ cắm mặt vào Ipad, con đọc truyện tranh, xếp hình trên nền gạch. Chẳng ai nói với ai. Mấy chục phút ngồi thế rồi ai tản về phòng người đấy. Những tiếng bấm cửa khô khốc. Lại bật tivi phòng ngủ xem film kênh Movies, xem chán lại chuyển kênh A,B,C... Phim nước ngoài, đủ loại. Xem chán rồi ngủ, ti vi cứ nói oang oang. Ngày trước nàng hay bày các trò để nối kết các thành viên gia đình, bây giờ nàng cũng bận rối. Sáng 6h30 cả nhà lao ra khỏi cổng, chồng hướng chồng, vợ hướng vợ, con cái thả xuống cổng trường với một chuỗi câu dặn dò phải thế này phải thế kia rồi vù xe đến cơ quan. Biết chắc, con chán ngấy với chuỗi dặn dò của mẹ, thậm chí biết chúng sẽ không nghe lời ngay sau khi bước vào cánh cổng trường sơn xanh sơn trắng kia nhưng bà mẹ nào cũng vẫn dặn, như thể không dặn thế thì không phải là một bà mẹ tử tế, không dặn thế thì lũ con không nên người được. Nàng lúc nào cũng bận rộn, việc cơ quan, việc buôn bán shop mỹ phẩm hùn vốn chung với bạn thân, việc tập luyện giữ sức khỏe vóc dáng, việc chăm sóc con cái… Lịch biểu của nàng dày sít trên bảng mêka treo sát gương lớn nơi phòng làm việc – thế giới của riêng nàng. Cả ngày chỉ còn mỗi bữa tối là đủ mặt, giờ lúc thiếu nàng, lúc thiếu anh vì vô số lý do. Lý do nào cũng chính đáng. Bây giờ người ta dành thời gian cho người ngoài nhiều hơn người thân. Đôi khi, nàng nhớ đến số liệu điều tra của mấy nhà xã hội học ở TP. Hồ Chí Minh rằng các ông bố bà mẹ hiện nay không dành quá 35 phút/ngày cho con cái và điều đó làm “mái ấm” gia đình thành “mái lạnh”.

Hôm nay, nàng đọc một cuốn sách. Đề từ có câu "Chim thú có rừng, cá tôm có biển còn em có anh". Nàng xúc động. Câu nói chạm vào tim nàng, đúng tâm nàng. Chỉ có những xa vắng như bây giờ nàng mới thấm thía nàng yêu và cần anh biết bao...

Xa rồi gần. Gần rồi xa. Cảm giác của những thời điểm đó nàng hiểu rõ nhưng vẫn luôn chới với khi đối diện. Khoảng cách có giá trị đo lòng người. Nàng chưa bao giờ quen được với cảm giác phải xa cách. Khi người ta trẻ người ta dễ quên hơn những nỗi buồn, sự thất vọng, thất bại và khó tha thứ cho những lỗi lầm người khác gây ra cho mình. Ngược lại khi người ta già, người ta luôn ghim chặt nỗi buồn vào tim, day dứt về sự thất bại nhưng lại dễ thứ tha hơn trước những điều người khác làm mình thất vọng. Nàng chẳng còn trẻ nhưng cũng chưa đến nỗi già. Nàng hay bị gặp khó khăn trong cuộc sống, từ bé đến giờ chẳng mấy khi sung sướng. Nàng chưa bao giờ trúng số dù vẫn mua vé số cầu may suốt 10 năm qua. Nàng đang cằn cỗi. Có những buổi chiều nàng ngồi như cây vông bị mối gốc, mặc tiếng lao xao, ồn ã bên cửa, đầu óc lộn xộn. Những người đàn bà thời hiện đại xinh đẹp hơn, giỏi giang hơn, cô đơn hơn. Mẹ nàng bảo: Đàn bà, được nhất là gia đình yên ổn ấm êm, địa vị danh tiếng, bạc vàng phù du thôi. Nàng muốn được như mẹ. Với bố, mẹ là số 1, mẹ là bà hoàng của bố.

Chồng nàng bảo anh không về đâu? Em sẽ không bao giờ thay đổi. Nàng phải thay đổi điều gì để anh quay về. Nàng hứa sẽ làm cho “mái lạnh” trở thành “mái ấm”. Chồng nàng thở dài, nàng đoán thế, vì tiếng thở mạnh và kéo sườn sượt từ phía anh hắt vào tai nàng, như thấu tới tim óc nàng, làm nàng bủn rủn, sây sẩm muốn khụy xuống. Đêm cứ dài thăm thẳm, cứ như không bao giờ sáng nổi với nàng khi nàng cứ gọi còn anh cứ ngắt máy và tắt luôn máy… Nàng lâu rồi đã quên mất anh từng nói rằng anh rất thích được nàng ôm vào lòng vỗ về, thủ thỉ, rằng anh rất ghét bị nàng quay lưng lại sau mỗi lần vừa cuồng nhiệt yêu đương, rằng rất ghét nàng ăn tối xong là lao vào phòng làm việc ngồi liệt ở đó đến 12h, 2h thậm chí đến 4h, mải mê đến nỗi anh đứng sát bên với cốc sữa nóng cũng không biết, mải đến nỗi biết rồi cũng không thèm nhìn lên, thờ ơ giơ tay nhận, uống ực, đưa ly rồi lại cắm vào màn hình xanh lét, lại lóc cóc gõ và gõ. Đàn bà là đáng thương. Muôn tội đâu phải mình đàn bà gây nên nhưng tiếng độc, tiếng buồn thì đàn bà cứ phải gánh trước. Nàng viết đời người lênh đênh mà quên đời mình cũng như bèo mùa lũ.

Anh từng bảo anh chỉ muốn có em như thằng T có vợ bán rau muống ngoài chợ Hoa Lư, thằng Q có vợ bán siêu thị sách… Vợ tụi nó ăn mặc đồ bộ giản dị, tóc tai giản dị, sáng đi bán tối về lo cơm nước, giặt giũ, hò hét con cái rồi ôm chồng chặt cứng ngủ. Vợ tụi nó biết nấu ăn ngon, thích ngồi nhậu kề cà với chồng và bạn chồng, cười nói rổn rảng, hứng lên còn hát váng, phê phê hát nhầm đoạn này qua đoạn kia, sai tông lạc điệu tùm lum, hát xong úp mặt vào lưng chồng thèn thẹn, thấy chồng uống nhiều lén lén thò tay ngắt đùi, ngắt mông, cái véo làm chồng giật thột, trợn mắt cảnh cáo. Vợ tụi nó vậy thôi mà vui.

Anh thèm những buổi tối như nhà tụi nó. Anh từng nói thế nhưng nàng lườm anh, bảo anh dở hơi. Đêm về, anh ôm nàng, mắt nàng dán vào trang sách 113, sách mượn phải đọc kịp trả, anh gác đùi nàng chà chà, nàng vỗ đùi anh nhắc ngủ đi mai đi làm sớm, anh rời đùi anh khỏi đùi nàng. Những chuyến công tác của anh dày hơn, những lần về ngắn dần rồi lại đi. Những lần đi ít dần lưu luyến, ít dần dặn dò việc con cái nhà cửa. Những khoảng cách đó, lúc đầu nàng thấy bình thường, thật bình thường, thậm chí nàng thoải mái vì bớt phải lo việc ăn uống sinh hoạt cho anh. Những lần về, sau bữa ăn tối, vẫn phòng khách 4 người 4 chỗ với những thiết bị công nghệ cá nhân đa tính năng, vẫn ấm nước trà ngon, kẹo bánh và hoa quả, vẫn chẳng ai nói quá 4 câu, ngồi một lúc rồi tản hết về phòng, tiếng bấm cửa khô khốc. Thế giới riêng tư bất khả xâm phạm, một lịch sự kiểu Mỹ nàng dạy mọi người trong nhà từ hồi mới cưới, từ hồi các con còn bé teo. Bây giờ muốn vào phòng chúng phải gõ cửa, anh muốn vào phòng làm việc của nàng phải gõ cửa, muốn vào phòng ngủ chung của hai vợ chồng phải gõ cửa. Cửa phòng ngủ chung vẫn đóng chặt mỗi đêm, đó là thói quen. Cửa phòng làm việc vẫn đóng chặt từ chập tối đến 12 giờ, đến 2 giờ và hơn thế, đó là thói quen. Nàng lên giường, giở sách và cắm mắt đọc, đó là thói quen… Nhưng dạo này nàng bỗng thèm nghe tiếng gõ cửa, thèm cốc sữa nóng khuya, thèm ly nước mật ong ấm loãng, thèm đùi anh gác lên đùi nàng đòi hỏi. Dạo này nàng lúc nhớ lúc quên nhưng luôn nghĩ đến anh. Lũ trẻ không dám, vì chúng đã quen với những sinh hoạt và quy định của nàng. Anh thì đang bên người đàn bà anh chọn thay thế nàng. Nàng từng nhìn lại mình và nàng biết mình đã bỏ mất điều đáng quý nhất của cuộc đời đó là gia đình.

Nàng thèm một buổi chiều cả 4 người ngồi bên nồi lẩu cá lóc nóng hổi xì xụp ăn và trò chuyện rôm rả, khoe những chiến công trong ngày, chê bai kẻ nào đó làm mình bực bội, lên kế hoạch cho công việc mai, kia, nọ, hứa hẹn chuyến về quê giữa hè, tết, dịp kỉ niệm nào đó. Giờ đây, nàng tự nhủ phải thay đổi để lôi kéo anh trở về căn nhà vốn từng vui vẻ, ấm áp những ngày khốn khó, căn nhà của anh và nàng trong nhật kí ngày đầu anh làm chồng với bóng dáng nàng tất bật buổi tối, buổi sáng lo chăm xong chồng con để kịp tới trường xa. Nàng hối hận. Mọi hối hận đều muộn màng. Nhưng nàng vẫn hy vọng anh quay về với ngôi nhà anh đã rời chân đi. Mẹ nàng bảo cái cuối cùng được nhất của đàn bà là gia đình. Nàng bấm số anh. Nàng hẹn cuộc gặp riêng tư nơi lần đầu hai người hò hẹn. Nàng viết email cho anh nhắc lại những kỉ niệm từ khi mới quen, đến khi cưới, lúc sinh con trai đầu lòng, lúc nàng có thai con gái thứ hai, lúc nàng sinh non vì làm việc quá sức, lúc anh khóc khi bác sĩ nói có khả năng chỉ cứu được em bé còn nàng sẽ chết, lúc anh đưa nàng về quê xây nhà thờ họ, lúc anh bị tai nạn nàng chăm sóc âu lo, lúc anh giữa đêm xe máy vượt 200km xuống thăm nàng đang học cao học vì nhớ vợ không chịu nổi… Nàng gửi cho anh những tấm ảnh kỉ niệm từng đoạn thời gian ghi dấu. Nàng chỉ lũ trẻ gọi điện cho anh đòi hỏi đi ăn tối, đi chơi công viên, quảng trường, hồ bơi, nhà sách, đi sinh nhật, đi ăn giỗ họ hàng… Nàng chỉ cho lũ con những khoảng thời gian để chúng vòi vĩnh, làm nũng cha rất hợp lý khiến anh mất hứng thú với người đàn bà đang bên mình. Người đàn ông nào cũng yêu con nhất quả đất. Người phụ nữ của anh hẹn nàng gặp mặt, mẹ nàng bảo lấy ân trị oán được ân, lũ bạn bảo xé xác nó ra thứ cướp chồng đục của, con em tái hôn nói tùy cảnh mà xử lý, nàng đến quán, nàng tròn mắt nhìn người đàn bà của anh. Nàng bị cuốn vào câu chuyện, nàng như bị dán vào ghế, nàng nhìn những nếp nhăn đuôi mắt chị xếp lại khi cười mồm há hốc, cổ họng nghẹn nghẹn. Nàng nhìn chị đưa tay vuốt ngược mớ tóc xòa chờm mắt, chân tóc lộ màu bạc, cái cách vuốt tóc vừa duyên và sang trọng, miệng nàng há hốc, nước mắt nối nhau lăn. Nàng thấy mình là một kẻ ngu ngốc, dở hơi. Mẹ nàng bảo cuộc đời dạy con người ta tự khôn ra, tự thích nghi, tự ăn năn. Bây giờ nàng mới cảm nhận được sự xấu hổ và ăn năn. Sau cuộc nói chuyện, nàng lao như bay đến cơ quan anh, không gõ cửa, nàng chạy xô đến anh ôm choàng và nức nở. Anh bảo khi khóc nàng rất đẹp.

Nàng gọi điện cho đám bạn, mời cà phê sáng, nàng bảo chúng nó để điện thoại chế độ câm, nhét hết vào túi, quy định thế khi gặp nhau để tám, để bàn chuyện làm đẹp, dạy con, giữ chồng, tìm chồng mới cho mấy đứa đã ly hôn... Thói quen thời hiện đại bị nhét vào túi. Thói quen nào cũng có thể bỏ nếu ta chủ động và cố gắng từ bỏ. Không hết ngay thì cũng mờ dần, phai dần và hết hẳn. Bây giờ nàng thấy háo hức những cuộc hẹn cuối tuần với đám bạn. Đám bạn bảo nàng độc đoán, nàng dẩu mỏ bảo chúng mày muốn sống hay muốn tồn tại. Một góc quán xôn xao, sinh động như sắc váy, túi, khăn, dép họ diện trên người. Nàng ngắm họ, lòng dạ như vừa được rót vào một cốc rượu mạnh.

Nhiều tuần trôi qua, nàng đã quen với những buổi chiều không buồn./.

                                                                                                                                                                                                                            H.T.H