Hiển thị các bài đăng có nhãn Phỏng Vấn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phỏng Vấn. Hiển thị tất cả bài đăng

12.21.2011

Dịch thuật vừa là nghệ thuật vừa là khoa học

Dịch thuật vừa là nghệ thuật vừa là khoa học
Hoàng Thanh Hương (thực hiện)

PGS.TS. Nguyễn Văn Dân, dịch giả văn học, Chủ tịch Hội đồng Văn học dịch Hội Nhà văn Việt Nam khoá VIII, Tổng biên tập tạp chí Văn học nước ngoài. Ông đã dịch khoảng 20 đầu sách văn xuôi, kịch và thơ của văn học nước ngoài từ tiếng Rumani, Pháp và Anh; là tác giả của nhiều đầu sách nghiên cứu về lý luận và phê bình văn học-văn hoá: Lý luận văn học so sánh (chuyên luận, 1998, 2000, 2003, 2011), Nghiên cứu văn học – lý luận và ứng dụng (tập tiểu luận, 1999), Văn học phi lý (khảo luận và tuyển chọn, 2002), Phương pháp luận nghiên cứu văn học (chuyên luận, 2004, 2006), Vì một nền lý luận – phê bình văn học chất lượng cao (tập tiểu luận, 2005), Văn hoá và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hoá (chuyên luận, 2006), Con người và văn hoá Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập (chuyên luận, 2009, 2011)... Năm 2000 ông được trao Giải thưởng văn học Hội Nhà văn VN cho tác phẩm lý luận – phê bình Nghiên cứu văn học – lý luận và ứng dụng (loại B, không có loại A). Hoàng Thanh Hương đã có cuộc trao đổi ngắn cùng ông về một số vấn đề liên quan đến văn học dịch và sự ảnh hưởng của văn học nước ngoài đến văn học Việt Nam đương đại.

HTH: Thưa PGS.TS. Nguyễn Văn Dân, ông có thể nói gì về việc khu vực miền Trung – Tây Nguyên hiện nay rất hiếm dịch giả?
Thật ra, nếu gộp cả khu vực miền Trung và Tây Nguyên thì cũng không thể nói là hiếm dịch giả. Có thể là hiếm hơn so với hai trung tâm lớn là Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh, nhưng nếu xét rộng ra thì vẫn còn nhiều địa phương khác rất hiếm dịch giả. Điều này cũng không có gì lạ, khi mà bản đồ văn hoá của nước ta vẫn còn có sự chênh lệch tương đối. Dịch thuật là một công việc vừa mang tính nghệ thuật vừa mang tính khoa học. Nó đòi hỏi người làm công việc này phải có một vốn kiến thức liên quan đến ngôn ngữ và văn hoá-văn học nước ngoài. Trong khi đó thì điều kiện văn hoá ở các địa phương hiện nay vẫn còn hạn chế so với các trung tâm đô thị lớn. Tuy nhiên, ở các tỉnh ven biển miền Trung cũng có nhiều dịch giả đã thành danh, và hiện nay cũng có nhiều bạn trẻ đang say mê đi vào lĩnh vực này. Tôi đã nhận được bản dịch của một số bạn trẻ gửi đến tạp chí Văn học nước ngoài và phải công nhận là họ có những cố gắng và say mê với nghề dịch thuật. Đó là một điều đáng khuyến khích. Tạp chí Văn học nước ngoài của Hội Nhà văn sẽ là một nơi để cho các bạn trẻ thử nghiệm và phát huy tài năng của mình trong nghề dịch thuật. Hiện tại, internet đang giúp làm giảm sự chênh lệch văn hoá giữa các vùng miền. Và tôi hy vọng các vùng sâu vùng xa như Tây Nguyên cũng hoàn toàn có cơ hội đóng góp cho lĩnh vực dịch thuật.
HTH: Theo ông, phẩm chất cần có nhất của một người làm nghề dịch tác phẩm văn học là gì ạ?
Vì dịch thuật là một công việc vừa mang tính nghệ thuật vừa mang tính khoa học, cho nên người làm công việc này vừa phải có óc cảm thụ nghệ thuật vừa phải có kỹ năng của một nhà khoa học. Và vì dịch thuật dứt khoát phải liên quan đến văn hoá đa quốc gia, cho nên người làm công việc này cũng dứt khoát phải có ý thức tìm hiểu về văn hoá của các dân tộc trên thế giới. Dịch thuật không đơn giản là chuyển nghĩa của một từ từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác. Mà cái quan trọng là phải hiểu các nền văn hoá đứng đằng sau ngôn ngữ để dịch đúng nghĩa của từ. Vì thế, ngoài óc cảm thụ thẩm mỹ, người dịch phải có tính kiên trì của một người lao động khoa học.
HTH: Thưa ông, sự phong phú và đa dạng của văn học dịch thời điểm hiện tại liệu có làm độc giả quay lưng lại với văn học nước nhà không?
- Hoàn toàn không. Cửa sổ văn hoá chỉ đem lại luồng gió mới để bổ sung và làm giàu cho văn hoá dân tộc chứ không thay thế nó.
HTH: Ông có nhận xét gì về tác phẩm của các dịch giả trẻ hôm nay?
- Các dịch giả trẻ hôm nay rất sung sức và năng nổ. Họ háo hức với những cái mới và muốn đóng góp cho văn học nước nhà. Nhưng có vẻ như họ hơi nóng vội mà thiếu một chút kiên trì. Nên đôi lúc vẫn dễ dãi trong công việc. Điều này thời gian sẽ giúp cho họ khắc phục.
HTH: Ý kiến của ông là gì khi hiện nay có quá nhiều lời khen/chê về cái gọi là văn chương “hậu hiện đại”, thưa ông?
- Tôi đã nói nhiều về vấn đề này. Hãy để cho thời gian trả lời.
HTH: Theo ông, sự ảnh hưởng của VHNN đến VHVN hiện nay đang ở cấp độ nào và sẽ tạo ra chất lượng tác phẩm ra sao?
- Ảnh hưởng là một quy luật tất yếu của phát triển văn hoá. Chúng ta đang ở thời kỳ hội nhập sâu rộng với thế giới. VHNN đang trở thành một bộ phận không thể thiếu của VHVN. Nó làm thành một trong những nguồn cảm hứng cho sáng tạo. Nhưng chất lượng tác phẩm không hoàn toàn phụ thuộc vào VHNN, mà phụ thuộc vào cảm quan nghệ thuật của nhà văn và vào ý thức của họ về những vấn đề trọng đại trong cuộc sống của đất nước.
HTH: Ông chưa lần nào đến Gia Lai, vậy thời gian tới ông có ý định sẽ đến thăm vùng đất Tây Nguyên của chúng tôi không?
- Tôi nghe nói Tây Nguyên là một vùng đất đẹp, cả con người lẫn thiên nhiên. Tôi có những người bạn văn Tây Nguyên rất chân thành và dễ thương. Đó là điều hấp dẫn để tôi ấp ủ ước mơ đến với vùng đất này một ngày không xa.
HTH

9.15.2011

khán giả nơi đây yêu nghệ thuật và nghệ sĩ vô cùng



Vân Dung – 
        khán giả nơi đây yêu nghệ thuật và nghệ sĩ vô cùng

Nữ nghệ sĩ hài nổi tiếng Vân Dung vừa qua có đợt vào Gia Lai cùng các nghệ sĩ: Quang Thắng, NSND Thu Hiền, ca sĩ Trọng Tấn, Anh Thơ và các diễn viên đoàn kịch nói Hải Phòng để biểu diễn phục vụ anh em cán bộ công nhân Công ty cổ phần đầu tư và phát triển thuỷ điện Đăk Psi. Chị và các nghệ sĩ đã vượt một quãng đường khá dài để đến tận công trường Đăk Psi 4 biểu diễn động viên tinh thần toàn thể anh em công nhân công ty nhân dịp Lễ thông hầm Nhà máy thuỷ điện Đăk Psi 4 tại huyện Tu Mu Rông tỉnh Kon Tum. 
PV: Nghệ sĩ Quang Thắng nói chị rất “mê tiền” và trừ anh Quang Thắng ra ngoài đời rất nhiều người “mê” chị?
Vân Dung: Tiền thì ai chả mê, riêng gì Vân Dung, còn Quang Thắng đồn tôi ngoài đời được nhiều người mê thì tôi chả tin vì Vân Dung vốn đâu có đẹp xinh gì cho cam, thế nên mãi tôi mới lấy được chồng. Trên sân khấu thì líu lo thế chứ ngoài đời tôi rất trầm, càng chỗ đông người tôi càng ít nói. Tôi ngại…đủ thứ. Quang Thắng nói thế để động viên an ủi cái dung nhan của tôi đấy, vả lại cũng không tin được đâu vì anh ấy và Xuân Bắc là những cái mỏ “điêu” nhất xứ Bắc đó.
PV: Khán giả nhiều người nghĩ chị ngoài đời chắc cũng chua ngoa đanh dá, tinh quái, lẳng lơ như trên sân khấu?
Vân Dung: Khổ thân tôi. Thực không phải vậy, tôi thuộc tuýp phụ nữ hiền lành và ngại tiếp xúc nữa là khác. Nếu đánh đồng như thế thì oan tôi quá.
PV: Ngoài đời chị có hay nổi cáu không?
Vân Dung: Đôi khi, do công việc quá tải, mệt mỏi quá sinh thế. Nhưng cũng kiềm chế dữ lắm vì nổi cáu vừa mau già vừa chẳng hay ho gì, mà tôi rất không muốn làm người khác phiền lòng.
PV: Chị và Quang Thắng là một cặp hài ăn khách, được khán giả cả nước rất mến mộ hiện nay, giữa hai người có bí quyết gì không?
Vân Dung: Không hề, chẳng qua ngoài đời tôi và anh Thắng rất thân thiết, yêu quý nhau như anh em trong nhà, chúng tôi hiểu rõ tính nết nhau, anh Thắng là người tinh ý và thông minh nên khi diễn anh ấy xử lý mọi tình huống rất linh hoạt, do vậy chúng tôi tung hứng khá nhịp nhàng, diễn với anh tôi tự tin và ít khi bị phô. Sự hiểu ý nhau trong một vở diễn rất quan trọng.
PV: Bây giờ chị ít diễn với nghệ sĩ Phạm Bằng?
Vân Dung: Bây giờ không còn nhiều sân chơi như trước, các nghệ sĩ hài muốn gặp nhau và chung diễn thật khó. Từ sau “Gặp nhau cuối tuần”, “Ga la cười” chúng tôi thực sự ít có cơ hội làm việc cùng nhau, và những diễn viên như tôi luôn mong được diễn cùng bác Phạm Bằng, bác ấy là một người thầy giỏi.
PV: Nghệ sĩ hài như chị xả stress bàng cách nào? 
Vân Dung: Đưa con đi chơi, cùng chồng con đi ăn uống, mời bạn bè cà phê, hoặc nấu ăn mời mọi ngưòi đến cùng thưởng thức. Mệt mỏi cũng giảm đi ít nhiều.
PV: Có một thực trạng sân khấu hài kịch bây giờ không ăn khách bằng sân khấu ca nhạc hay phim? Là một diễn viên hài chị cảm thấy như thế nào?
Vân Dung: Tôi nghĩ cái gì cũng có thời của nó. Ca nhạc có nhiều lựa chọn hơn, các ca sĩ họ có fan hâm mộ, có thể dễ biểu diễn độc lập, một ca sĩ  một bài hát họ có thể hát mưòi năm khán giả nghe không chán, kịch thì khác, diễn một vở đến lần thứ hai là khán giả không muốn xem nữa dù diễn viên diễn hay đến mấy, và luôn cần bạn diễn phối hợp. Thế nên mỗi lĩnh vực có cái khó riêng. Sân chơi cho kịch cũng  không nhiều, ở miền Bắc bây giờ nghệ sĩ Chí Trung mới đang bắt đầu tạo dựng một sân khấu riêng cho anh em diễn viên hài. Nên nghệ sĩ hài kịch bọn mình rất mong muốn Đài truyền hình, Nhà nước tạo một sân chơi để nghệ sĩ bọn mình được liên tục phục vụ khán giả những món ăn tinh thần thú vị. Vì một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ mà.
PV: Bận rộn thế thời gian nào chị dành cho gia đình?
Vân Dung: Trước đây chạy sô nhiều, lịch làm việc dày khít xếp trước cả hai tháng, thời gian ấy không thể khác vì lúc đó mình đang phấn đấu, sau này  có tổ ấm, mình bớt làm việc lại để lo cho gia đình. Phụ nữ gia đình là quan trọng.
PV: Chị về Gia Lai lần này làm gì?
Vân Dung: Tôi về biểu diễn phục vụ anh chị em cán bộ công viên công ty Cổ phần đầu tư và phát triển thuỷ điện Đăk Psi theo lời mời của chị Mầu Thị Thanh Xuyên - lãnh đạo công ty. Chị muốn bọn tôi động viên khích lệ tinh thần anh em công nhân trên công truờng suốt bao thời gian qua không quản khó khăn vất vả, xa gia đình, quê nhà ngày đêm thi công công trình nhà máy thuỷ điện Đăk Psi 4. Tôi rất hào hứng và sẵn lòng bởi vì đây là cuộc giao lưu văn hoá rất ý nghĩa giữa tôi với những CBCNV đang trực tiếp lao động trên công trường. Nói thật trước họ tôi diễn không biết mệt. Nhìn những khuôn mặt sạm đen vì nắng, gió, mồ hôi nhỏ giọt say mê xem chúng tôi diễn và cười sảng khoái, Vân Dung và anh Thắng cũng như chị Thu Hiền, Anh Thơ, Trọng Tấn có thể diễn cả ngày cả đêm. Họ là dân kỹ thuật mà lãng mạn và nồng hậu lắm. Đây là một chuyến biểu diễn đáng nhớ trong đời Vân Dung. Và tôi thực sự cảm ơn chị Tổng giám đốc Thanh Xuyên đã tạo cho  tôi cơ hội về Gia Lai lần này cho tôi  thấy được tình cảm khán giả ở những nơi xa xôi như thế mà yêu nghệ thuật và nghệ sĩ vô cùng.
PV: Sắp tới Festival cồng chiêng quốc tế tổ chức tại Gia Lai tháng 11-2009, chị có ý định về lại?
Vân Dung: Có thể, nếu như Gia Lai có một lời mời tôi cùng các nghệ sĩ về biểu diễn chào mừng, cũng có thể tôi sẽ là một khách du lịch đến thăm thú vùng đất xinh đẹp và không khí trong lành này. Tôi thích thành phố Pleiku lắm. Buổi sáng ở đây thật đẹp.
                                                                Hoàng Thanh Hương

với Gia Lai -TÔI ĐANG MẮC NỢ ÂN TÌNH


Hoàng Thanh Hương  (thực hiện)

NGUYỄN THUỴ KHA
với Gia Lai -TÔI ĐANG MẮC NỢ ÂN TÌNH

Nhà thơ, nhạc sỹ Nguyễn Thuỵ Kha về Gia Lai lần này để tìm cảm hứng sáng tác một bản giao hưởng dành riêng cho Gia Lai – nơi anh đã một thời gắn bó. P.V Báo Gia Lai có cuộc trao đổi với anh xung quanh vấn đề âm nhạc Tây Nguyên hiện nay và đề tài người lính trong sáng tác của anh.

PV: Năm 1975, anh cùng đồng đội tiến quân về giải phóng Pleiku - Gia Lai và đã từng sống ở đây một thời gian? Vì vậy anh khá nặng lòng với Pleiku?
Nguyễn Thuỵ Kha: Những năm tháng cuối cùng của cuộc chiến tranh tôi công tác tại Tây Nguyên. Chúng tôi tiến quân giải phóng Pleiku và về ở tại trụ sở Quân đoàn II, đó là kỉ niệm suốt đời tôi không bao giờ quên, chính những năm tháng sống, công tác ở Tây Nguyên đã khiến tôi quyết viết một cái gì đó để trả nợ vùng đất đã bao bọc tôi  những năm tháng gian khổ. Sau giải phóng  tôi có viết trường ca Gió Tây Nguyên. Tiếp đó tôi được mời về trại sáng tác Quân khu V để hoàn thành trường ca này, cùng thời gian ấy tôi thực hiện thêm một trường ca nữa, đó là hai trường ca duy nhất trong đời viết của tôi. Tôi trở lại Pleiku năm 1983, có viết vài bài thơ, trong đó bài Những đứa trẻ chạy trên thóc với  những câu thơ.
Những đứa trẻ chạy chân trần trên thóc
Chạy trên ấm no.
Càng lúc tôi càng thấy mình dự cảm đúng khi viết hai câu thơ này mỗi lần trở về Gia Lai.
 Tôi yêu quý và coi Gia Lai như quê hương thứ 2 của mình. Năm 1997, tôi lại trở về, Pleiku – Gia Lai thay đổi quá, cảm giác Pleiku sương khói trầm mặc của tôi ngày trước đang mất dần đi, Pleiku hiện tại hiện đại và thơ mộng. Tôi đang muốn viết từ hai cảm nhận đó về Pleiku – Gia Lai, tôi hy vọng sẽ là một hợp xướng đậm chất Gia Lai, do vậy tôi đã trở về để hồi tưởng để cảm nhận và để viết.
PV: Từ trước tới giờ anh chưa có tác phẩm âm nhạc nào viết riêng cho Gia Lai đúng không?
NTK: Có chứ, Sa Thầy quê hương khi Gia Lai - Kon Tum chưa tách tỉnh, Trở về Ayun Pa. Lúc ấy là năm 1983, Ayun Pa lạ lắm, lôi cuốn lắm. Tôi hát bài này giữa một vòng tròn những chàng trai cô gái dân tộc Jrai - Ayun Pa trong một đêm mùa khô. Chúng tôi đã cùng hát bài này đầy cảm xúc và thú vị là Chủ tịch huyện Ayun Pa hồi ấy là một đồng đội cùng đơn vị của tôi. Anh ấy mất rồi. Thân thương lắm.
PV: Là nhà báo, nhà thơ, nhạc sĩ, nhà làm phim, và là 1 doanh nghiệp, anh có thấy mình quá tham việc? Thời gian nào anh dành cho sáng tác thơ và nhạc?
NTK: Người không theo thời gian biểu của NTK, chắc cho dây là chuyện hoang đường, nhưng tôi thì làm việc thật sự, và có thể thấy là tôi thành công. Quy trình sáng tác của tôi không giống người khác, tôi quy định mình phải viết một ngày hai trang: thơ, nhạc, lý luận phê bình, phim... viết và gọt dũa cho dến khi hoàn chỉnh, tôi rất nghiêm khắc với bản thân về chuyện viết lách, nếu hôm nào bận việc quá không thể viết hôm sau tôi sẽ viết bù. Tôi làm tất cả mọi việc vào ban ngày, đêm là thời gian để nghỉ ngơi, nên tôi tự hào tuy đã vào tuổi 60 nhưng tôi dồi dào sức khoẻ và  ý tưởng sáng tạo. Tôi học cách viết ấy từ nhà văn Nguyễn Huy Tưởng. Suốt mấy chục năm như thế tôi đã có hàng vạn trang bản thảo và sẽ còn công bố nhiều.
PV: Anh là một người lính trở về từ cuộc chiến, những kí ức chiến tranh khiến thơ anh “rất lính”. Vậy đề tài chiến tranh và người lính có còn thường trực trong anh  không?
NTK: Tôi đã là người lính và giờ vẫn là một người lính, tôi đang làm kinh doanh, thương trường là chiến trường mà. Chiến trường nào cũng phải chiến đấu để giành chiến thắng. Cuộc chiến tranh của dân tộc rất vĩ đại nên sau mấy chục năm tôi và những người cùng thời vẫn nhiều ám ảnh, cảm giác chưa làm được những điều xứng tầm với lịch sử. Tôi là một người lính làm thơ, người lính có những tâm tư dằn vặt rất lính... Năm 2007, chúng tôi gồm: Nhà phê bình Hoàng Ngọc Hiến, nhà thơ Hoàng Trần Cương được mời sang Mỹ đọc thơ và trao đổi về Chủ nghĩa cổ điển mới, người Mỹ rất khâm phục những người lính Việt Nam và thơ viết về lính của chúng tôi được dịch, in thành sách, phổ biến đến bạn đọc nước ngoài. Họ đọc và thú vị. Họ khâm phục những người lính Việt Nam.
PV: “Không đề” là một bài thơ tình hay của anh, người ta nói “thơ tình Nguyễn Thuỵ Kha quyến rũ sâu sa”. Anh nghĩ sao về điều này?
NTK: Bài này đã được tuyển chọn vào Tuyển thơ tình Việt Nam. Tôi viết nó từ một sự thực, tôi đưa người yêu về Hải Phòng ra mắt gia đình, trên đường đi từ ga về ngang qua đường có nhà người yêu cũ, người ấy lúc ấy đã lấy chồng, vì nàng hay tin tôi hy sinh trên đường vào chiến trường, điều ấy không thể trách, chiến tranh mà. Từ cảm xúc thật ấy mà tôi có bài thơ này. Làm xong không thể đặt được đề nên tôi đề luôn là Không đề. Đây là bài thơ tôi tâm đắc. Nhiều người cũng thích nó, nó được chọn vào nhiều tuyển. Mỗi người một lẽ nhưng thế cũng thấy tự hào. Tuy nhiên khi đăng tuyển người biên tập làm dở thơ của tôi khi thay từ “Rơi” ở đầu câu 2 thành “Trong”.
Đưa ngưòi yêu qua nhà người yêu cũ
Rơi cơn mưa ban trưa
Chợt thấy hồn mình tách làm hai nửa
Nửa ướt bây giờ nửa ướt xa xưa
Với tôi thơ tứ tuyệt, từ ngữ càng gọn càng sắc, quãng nhảy giữa các câu càng xa thì sức nặng của bài thơ càng lớn.
PV: Là một nhạc sĩ, anh có nhận xét gì về âm nhạc Tây Nguyên bây giờ, đặt biệt là những ca khúc viết về Pleiku – Gia Lai.
Đây là một câu chuyện dài, tôi là người nghiên cứu về âm nhạc và phê bình lý luận, tôi yêu âm nhạc truyền thống Tây Nguyên đặc biệt dân ca Jrai, Bahnar, Êđê. Nhưng tôi thú vị với dân ca Jrai hơn cả. Âm nhạc Tây Nguyên hiện nay có hai chiều hướng, các tác giả ở khu vực và trong tỉnh am hiểu về bản chất âm nhạc nhưng tác phẩm của họ chưa vang xa ra bên ngoài, có nhiều lý do song có lẽ những tác phẩm đó chưa đủ lực, còn nhạc sỹ ở ngoài viết về Tây Nguyên, Pleiku - Gia Lai đôi lúc vì chưa hiểu sâu sắc văn hoá TN đã áp đặt dân ca của dân tộc khác vào, hoặc Tây hóa âm nhạc Tây Nguyên, nên âm nhạc Tây Nguyên chưa thực sự vang dội như nó vốn có. Chuyến đi lần này tôi muốn học hỏi và cộng tác với anh em đồng nghiệp khu vực và Gia Lai để thực hiện một tác phẩm tương đối công phu. Chúng tôi muốn làm cho âm thanh Gia Lai vang lên và đến với thế giới.
PV: Trong những nghề anh đang làm hiện nay, nghề nào được anh ưu ái nhất  và sẽ theo đuổi đến tận cùng?
NTK: Tôi làm báo để sống, làm nhạc để vui và làm thơ để chết. Tôi vẫn hay nửa đùa nửa thật với bạn bè rằng ai sống bằng thơ thì thơ chết, ai làm thơ để chết thì thơ sẽ sống. Tôi đã làm lý luận phê bình âm nhạc 20 năm, giờ tôi muốn dành nhiều thời gian để sáng tác nhạc, tôi cảm thấy  tôi chưa vượt qua chính tôi trong âm nhạc và cả thơ nữa, do vậy tôi sẽ còn đeo đuổi chinh phục. Với tôi thơ và nhạc sẽ bị tôi theo đuổi cho đến lúc tàn hơi.
PV: Cám ơn anh về cuộc trò chuyện hôm nay, hy vọng nhân dân Gia Lai sẽ sớm được nghe hợp xướng anh viết riêng tặng Gia Lai thời gian tới. Chúc anh sức khoẻ và dồi dào sức sáng tạo.
















Nghệ sĩ hài Quang Thắng – Tôi yêu Gia Lai

Nghệ sĩ hài Quang Thắng – Tôi yêu Gia Lai      

Nghệ sĩ hài Quang Thắng cùng các các diễn viên đoàn kịch nói Hải Phòng vừa qua có chuyến lưu diến tại một số huyện thị và đơn vị vũ trang ở Gia Lai. Được biết sau chuyến lưu diễn đoàn và nghệ sĩ Quang Thắng sẽ thẳng tiến TP.Hồ Chí Minh để kịp tham gia Hội diễn sân khấu kịch nói toàn quốc.  PV Đài PTTH Gia Lai có cuộc trò chuyện cùng anh.

 PV: Trước đây anh đã đến Gia Lai chưa?
Quang Thắng: Rồi chứ, 3 lần, tôi đi quay hình và làm chương trình Chúng tôi là chiến sỹ, và thăm bạn bè, ở đây tôi có vài người bạn thân thiết. Lâu lâu nhớ nhau lại tìm vào. Những lúc như thế còn có thời gian để rong ruổi thăm thú thành vài nơi chứ dịp này vào lưu diễn thời gian khít khịt.
PV: Anh thấy thành phố Pleiku thế nào?
QT: Đẹp, không khí rất trong lành, và Em Pleiku má đỏ môi hồng/ Ở đây bầu trời quanh năm mùa đông thật y như thơ Vũ Hữu Định. Không hề nghĩ vào độ này Pleiku lại lạnh thế, vừa vào đến là phải bắt xe ôm tìm hàng đồ sổ mua ngay cái áo để chống tạm cái rét phố núi.
PV: Người ta đồn những nghệ sĩ hài nổi tiếng như anh rất giàu?
QT: Thường nghệ sĩ không nói đến chuyện giàu nghèo vì họ sống bằng tâm hồn, nghệ sĩ hài ráo mồ hôi thì hết tiền. Nghề chúng tôi vất vả nhưng thu nhập không cao đâu thế nên anh em nghệ sĩ hài phải làm đủ nghề để kiếm thêm thu nhập. Giàu ư? Mọi người cứ tưởng thế thôi. Chúng tôi cũng đang mong giàu thật bằng nghề diễn của mình lắm đây.
PV: Anh Quang Thắng có yêu nghề không?
QT: Yêu nghề lắm mình mới trụ đến ngày hôm nay, không thì đã đứt gánh giữa đường từ lâu rồi. Đúng là lỡ mang cái nghiệp vào thân, nhiều lúc khó khăn quá định dứt nhưng lại nhớ lại diễn. Thế mà 20 năm rồi mình đeo đẳng với nghề.
PV: Hạnh phúc của người diễn viên là gì?
QT: Là diễn xong được khán giả trân trọng.
PV: Điều không hạnh phúc?
QT: Sau biểu diễn đồng lương không đảm bảo cho cuộc sống gia đình, nhiều anh em khác còn vất vả hơn tôi. Điều này nói ra thì buồn.
PV: Trên sân khấu anh rất hài hước thế còn ngoài đời?
QT: Ngoài đời tôi như bao ngưòi đàn ông khác, thích lê la nhậu nhẹt các quán bình dân, bù khú với bạn bè, về nhà là người cha người chồng mẫu mực, thuỷ chung. Tôi rất yêu gia đình của mình và thích làm cho bạn bè người thân vui vẻ khi họ ở bên tôi.
 PV: Có khi nào anh diễn hài trên sân khấu mà ở dưới khán giả không ai cười?
QT: Chưa, nếu tôi đã ra sân khấu là luôn cố sức diễn tốt nhất để làm cho khán giả cười thoải mái. Nếu họ không cười thì Quang Thắng đã bỏ nghề rồi. Người nghệ sĩ khi đứng trên sân khấu phải tự thấy có trách nhiệm với khán giả.
PV: Lần này ngoài diễn phục vụ khán giả Gia Lai tại một số huyện thị và đơn vị vũ trang, anh và các đồng nghiệp còn biểu diễn cho anh em cán bộ công nhân trên công trường thủy điện Đăk Psi theo lời mời của Công ty cổ phần đầu tư & phát triển thuỷ điện Đăk Psi?
QT: Đúng, tôi và đoàn kịch Hải Phòng vào biểu diễn phục vụ anh em công nhân đang lao động trực tiếp trên công trưòng Đăk  Psi tại Kon Tum theo lời mời của chị Thanh Xuyên giám đốc công ty. Lần đầu tiên tôi diễn trước một lượng khán giả đặc biệt như thế này trong một buổi chiều nắng nóng gay gắt và gió vù vù của Tây Nguyên. Người diễn người xem đổ mồ hôi hột. Anh em công nhân lên đến rạp nhiều người còn lấm lem bụi đất, dầu máy trên áo trên mũ và tay chân, họ say mê xem chúng tôi diễn và vỗ tay liên tục. Có lẽ chưa bao giờ tôi, Vân Dung và các anh chị em diễn viên lại diễn hăng đến thế. Tình cảm ấm áp lắm. Hoa, những cái bắt tay, ôm chặt, những pô ảnh chụp chung nhau bằng máy điện thoại… Tôi sẽ không bao giờ quên được lần biểu diễn này.
PV: Mọi người thường gọi anh là “mũi to”? Anh có thấy khó chịu không?
Hồi bé thì thấy buồn, tủi thân vì mình xấu trai. Giờ vui và hãnh diện vì những nét xấu trai đó đã tạo thành thương hiệu cho mình, nhắc đến Quang Thắng mũi to người ta nhớ ngay ra mình, hoặc gặp mình ngoài đường mọi người chào to, bắt tay, vỗ vai bồm bộp: A, anh Thắng mũi to vào Gia Lai từ bao giờ đấy. Đi đến các đơn vị bộ đội các chiến sĩ quây lấy tôi gọi thân thương. A! anh Thắng mũi to đến các cậu ơi. Nghe ấm lòng lắm.
PV: Đi diễn các tỉnh nhiều thế, không còn nhiều thời gian cho gia đình, vợ anh có thông cảm không?
QT: Vắng nhà nhiều vợ tôi có buồn nhưng cô ấy hiểu thông cảm và thương chồng hơn vì vợ tôi biết tôi làm việc liên tục vất vả như thế cũng chỉ vì mong gia đình có cuộc sống tốt hơn. Và tôi cứ xong chuyến diễn là lập tức vù ngay về với “3 vịt giời” ở Hải Phòng.
PV: Anh có định hành phương Nam làm nghề lâu dài? 
QT: Không. Mỗi vùng miền có văn hoá đặc trưng riêng, miền Nam nền sân khấu hài có sớm và khán giả nơi đó cũng quen với gu hài kịch của họ. Kết hợp biểu diễn thì có. Năm nào mình cũng có vài “sô” diễn với các nghệ sĩ hài miền Nam và cũng được khán giả yêu quý lắm nhưng định cư lâu dài và tạo dựng sự nghiệp ở Sài Gòn thì mình không có ý định.
PV: Bộ phim “Những người độc thân vui vẻ”  anh tham gia có nhiều dư luận không tốt, anh có suy nghĩ gì không?
QT: Bộ phim ấy Quang Thắng và anh em nghệ sĩ  khác làm để trả ơn những người đã tạo dựng một sân chơi hấp dẫn cho các nghệ sĩ hài trước đây đó là gặp nhau cuối tuần và các nghệ sĩ cũng đã cố gắng hết mình, tuy nhiên việc một bộ phim có thành công hay không thì lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố klhác nữa. Có buồn nhưng mọi sự cũng đã rồi mà.
PV: Thời gian tới anh có định vào Gia Lai?
QT: Có chứ,  tôi phải tạo lý do để về lại nơi này, chắc cuối năm tôi sẽ xin làm tiếp chương trình Chúng tôi là chiến sĩ để lại được về đây. Tôi đặc biệt yêu quý thành phố của các bạn, cà phê “cóc” rất ngon, những rừng cao su tuyệt đẹp vào buổi chiều, những nét văn hoá dân gian hấp dẫn trong trang phục, ẩm thực, âm nhạc, biểu diễn của đồng bào nơi đây… và ở đây tôi có những người bạn tốt bụng nồng hậu vô cùng.

                                                            Hoàng Thanh Hương (thực hiện)

tôi sẽ viết vài ca khúc về Gia Lai, về Pleiku.

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Hiên
                   - tôi sẽ viết vài ca khúc về Gia Lai, về Pleiku.


Nguyễn Văn Hiên là nhạc sĩ sáng tác nhiều ca khúc dành cho tuổi học trò. Ca khúc của anh có ca từ trong sáng, giản dị như lời kể chuyện. Những bài hát dành cho tuổi hồng nổi tiếng của anh: Hổng dám đâu, Con đường học trò, Một thời để nhớ, Nắng sân trường, Tháng sáu mùa thi, Bồ câu không đưa thư... Nhân chuyến anh cùng đoàn nhạc sĩ của Hội Âm nhạc TP. Hồ Chí Minh đi thực tế sáng tác và giao lưu tại tỉnh Gia Lai. PV Báo Gia Lai đã có cuộc phỏng vấn anh xung quanh vấn đề cái khó khi viết nhạc cho tuổi học trò.
Pv: Là nhạc sĩ có nhiều ca khúc viết cho tuổi hồng thành công. Anh có bí quyết gì chăng?
NVH: Chẳng có bí quyết gì. Nếu có, đó là tấm lòng đối với các em ngày hôm nay đại diện cho một thời mình đã trải qua. Tất nhiên, âm nhạc mỗi thời phải khác.
PV: Theo anh viết cho thiếu nhi cái khó là gì?
NVH: Cái khó là mình có hòa nhập cùng thế giới tuổi thơ hay không. Viết cho thiếu nhi nhiều người tưởng dễ nhưng theo tôi, không dễ. Bởi nếu viết với sự trân trọng tuổi thơ đòi hỏi người viết không nên giáo dục một cách giáo điều (nếu vậy thì chỉ cần dạy các em trong môn giáo dục công dân) cần gì đến âm nhạc. Tôi nghĩ, trước hết nhạc sĩ sáng tác cần có tấm lòng yêu trẻ, phải cố gắng viết những bài hát hay, và phải đem những chất liệu dân tộc vào tác phẩm để các em quen với âm nhạc quê mình, nhất là khi lớn lên các em không trở thành những người đi nghiên cứu âm nhạc quê hương Việt Nam cả mấy đời cũng không hiểu hết.
PV: Với tư cách là UV BCH Hội Âm nhạc TPHCM, anh có suy nghĩ như thế nào về lời trong các ca từ viết về tình yêu hiện nay của các nhạc sĩ trẻ?
NVH: Thứ nhất, các nhạc sĩ trẻ không phải ai cũng là hội viên Hội Âm nhạc TP. HCM. Thứ hai, dù là không hội viên nhưng cũng có rất nhiều người viết có tâm huyết. Một số bài sở dĩ gây phản cảm đối với công chúng là vì trình độ yếu kém về văn học. Người có học không bao giờ chấp nhận chuyện đó. Ai chấp nhận, đó là những kẻ vô học. Có gì mà hãnh diện.
PV: Các nhạc sĩ khác thường khai thác chất liệu từ hình tượng các tác phẩm thơ để sáng tác thành ca khúc còn anh thì thường “phổ”  truyện và tiểu thuyết.
NVH: Tôi cũng có phổ thơ chứ! Tôi không muốn nói có nhiều bài rất hay vì như thế không khiêm tốn. Tôi có nhiều bạn là nhà văn như: Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Đông Thức, Nguyễn Nhật Ánh, Đoàn Thạch Biền, Hà Đình Nguyên, Phan Hồn Nhiên… Một số bài tôi đã phổ biến như: Ngọc trong đá, Như nắng như mây (truyện Nguyễn Đông Thức), Tôi thương mà em đâu có hay, Thung lũng cát (truyện Đoàn Thạch Biền), Bay cao ước mơ (truyện Nguyễn Quang Sáng), Bồ câu không đưa thư,  Bong bóng lên trời, Ngôi trường mọi khi (truyện Nguyễn Nhật Ánh), Những cánh chim lang thang (truyện Cay đắng mùi đời của Hồ Biểu Chánh)…
PV: Anh từng nói: “Cuộc đời sáng tác của  tôi luôn gắn liền với những chuyến đi xa”, anh có thể chia sẻ thêm một chút về điều này?
NVH: Đó là sự thật đối với tôi. Tôi đến rất nhiều nơi. Và, mỗi nơi đều đọng lại trong tôi nhiều ấn tượng, nhiều cảm xúc. Các tác phẩm của tôi cũng ra đời từ đó. Thực tiễn bao giờ cũng là nguồn cội của sự sáng tạo.
PV: Trong các ca khúc của mình nếu chỉ được chọn một ca khúc để giới thiệu anh sẽ chọn bài hát nào?
NVH: Chiều biên giới. Còn nếu ở thể loại thiếu nhi thì là Hổng dám đâu, nếu là ca khúc thanh niên thì là bài Hành trình tuổi hai mươi.
PV: Anh có nghề tay trái là người dẫn chương trình?
NVH: Nếu gọi là nghề thì… hơi quá!
PV: Ca sĩ Kiều Bạch vợ anh bây giờ có còn hát những ca khúc của anh?
NVH: Có chứ. Nhưng không phải tất cả nếu không hợp giọng.
PV: Trước đến giờ anh có ca khúc nào viết về Gia Lai và Tây nguyên chưa?
NVH: Về Tây Nguyên thì nhiều. Chẳng hạn: Mùa hè Tây Nguyên xanh, Chiều hồ Lăk, Tiếng hát Krông Ana, Mênh mông hồ Lăk, Rừng hát, Thu cao nguyên. Cách đây 5 năm, khi đưa các nhạc sĩ trẻ ở TP. HCM lên Gia Lai để đi thực tế sáng tác, sau đêm diễn phục vụ bà con ở Chư Prông tôi đã viết bài Những kỷ niệm xanh. Còn bây giờ trong chuyến đi này tôi sẽ viết vài ca khúc về Gia Lai, về Pleiku.
          PV: Cám ơn anh và chúc anh dồi dào sức sáng tạo.

Cần đọc nhiều để sâu sắc khi nhìn nhận đánh giá các vấn đề

Nhà giáo, nhà lý luận phê bình PHẠM PHÚ PHONG
-         Cần đọc nhiều để sâu sắc khi nhìn nhận đánh giá các vấn đề

Nhân chuyến về Gia Lai giảng dạy cho giáo viên ngữ vănTHCS đang theo học lớp ĐH từ xa do trường ĐH Khoa học Huế và trường CĐSP Gia Lai kết hợp tổ chức, PV Báo Gia Lai có cuộc trao đổi với nhà giáo, nhà lý luận phê bình Phạm Phú Phong xung quanh việc giảng dạy văn học hiện nay trong các trường ĐH và cái “khó” của người làm công tác LLPB trong đời sống văn học hiện nay...
PV: Anh đến Gia Lai lần này ngay khi mùa mưa vừa bắt đầu, việc này có gây trở ngại cho công việc của anh? Anh có thể tự giới thiệu về mình với thính giả đang nghe đài?
PPP: Không thành vấn đề, tôi thích những cơn mưa, chỉ trở ngại một chút khi đi thăm thú bạn bè thôi. Tôi đến GL lần này theo lời mời của Trung tâm giáo dục từ xa, tôi đang giảng dạy tại ĐH Khoa học Huế, chủ nhiệm bộ môn lý luận văn học, 29 năm giảng dạy, tạng người tôi hình như không phù hợp với công việc giảng dạy lắm, tôi phải làm báo mới đúng, tôi là người thích đi nhiều, khám phám nhiều, giờ tôi cũng thoả nguyện một phần vì 10 năm gần đây tôi về giảng dạy khoa báo chí và làm phóng viên thường trú cho Báo Phụ Nữ VN tại Huế nên cũng có cơ hội thoả chí, giảng dạy thời gian khá trói buộc nhưng số phận dường như gắn tôi với nghề dạy. Gia Lai có một số họcc trò của tôi đang theo nghề báo: Kim Linh, Nguyễn Hiếu, (Báo GL) và Thanh Luận (Báo NNNT VN).
PV: Cái thú vị nhất của người làm công tác giảng dạy theo anh là gì?
Giảng dạy là nghề không phải chỉ có kiến thức là dạy được thành ra tôi nghĩ đây là một nghề phải lao động thực sự. Người dạy phải trau dồi kiến thức, có phương pháp truyền thụ, cần có lối sống phù hợp với đạo đức nghề giáo, có khát vọng truyền thụ kiến thức cho học trò, nên tìm cách giảng dạy làm sao để làm cho học trò phải nhớ và thú vị về tiết giảng, để khi học xong họ còn mong tiếp tục gặp lại mình, tiếp tục triển khai những ý tưởng của mình trở thành những điều thiết thực phục vụ cống hiến cho đời sống xã hội. Tôi nghĩ người dạy giống người thổi hồn vào công việc. Khi dạy anh tin vào điều anh nói thì mới khiến người ta tin, người thầy nếu thổi hồn được vào môn học ấy thì mới lôi cuốn được người nghe giảng. Nhiều ngưòi bây giờ khi dạy họ nói những điều bản thân họ không tin, nói cứng y theo sách, theo giáo trình, muốn có tiết giảng ấn tượng, chất lượng, người thầy tâm huyết cần đọc nhiều để am hiểu nhiều và truyền thụ nếu không sẽ thất bại
PV: Có nhiều ý kiến, tranh luận xung quanh phương pháp giảng dạỵ văn chưa khoa học hiện nay trong các bậc học: Đó là việc giảng dạy gò bó, thiếu tính sáng tạo, ít thực tiễn… khiến người học thụ động, nhàm chán các giờ học văn trên lớp? Ý kiến của anh về vấn đề này?
Chúng ta đang chống dạy từ chương nhưng lại dạy rất từ chương, người dạy cứ nói học trò cứ ghi, khi thi sào sáo lại ý tưỏng của thầy. Hiện nay có phương pháp dạy gợi mở, người dạy nói một nửa, người học tự nghiên cứu thêm các tài liệu liên quan, nhưng tôi thấy thấy thực tế không hiệu quả vì đó chỉ là đổi mới hình thức, do học trò ít chịu khó đọc sách, thêm nữa cũng có không có sách cho các em đọc, một giáo trình cần thêm vài cuốn sách để tham khảo, so sánh, phương tiện máy móc cũng thiếu thốn. Chỉ giới thiệu ở lớp, thời gian còn lại các em không chịu khó mày mò nghiên cứu thu thập thêm thông tin để làm sáng tỏ vấn đề thì khó hiệu quả lắm. Sách ĐH khác phổ thông, phổ thông thay sách hằng năm còn ĐH thì không được vậy. Do đó người dạy phải đọc rất nhiều loại sách liên quan mới đủ vốn cung cấp kiến thức cho học sinh, người dạy chỉ là ngưòi giải mã vấn đề còn người học phải nghiên cứu thêm để tự hiểu rõ. Thế mới mong tiến bộ được.
PV: Anh có nhận xét như thế nào về văn hoá đọc của sinh viên bây giờ?
Các em lưòi đọc, cần duy trì văn hoá đọc đúng nghĩa như một nề nếp, khong ít em bây giờ thường đọc trên mạng, chủ yếu là để lấy thông tin. Nhưng như vậy chưa đủ. Người Nhật trước đây thích xem ti vi, nhưng giờ họ không xem ti vi mà dành thời gian đọc sách và đọc trên mạng. Theo tôi đọc mạng lợi là thu nhiều lượng thông tin cùng lúc nhưng độ sâu sắc không thể bằng nghiền ngẫm một cuốn sách thực sự, văn học cổ điển rất cần cho tâm hồn các em. Đọc kết hợp để bổ sung kiến thức một phần song cũng để dung hoà tình cảm của mình nữa vì trong văn học tình cảm con người rất lãng mạn và nhân văn.
PV: Văn chương nhà trường và văn chương bên ngoài xã hội hiện nay đang có một khoảng cách. Anh có nghĩ với đời sống văn học sôi động đa dạng, đa dòng như hiện nay thì sinh viên có thể theo kịp điều này?     
Đó là một khoảng cách xa, chương trình giảng dạy hiện nay không bắt kịp đời sống thực tại. Một xã hội đã đổi mới phát triển nhiều về kinh tế sẽ kéo theo phát triển nhanh chóng về văn hoá, văn học nghệ thuật... nhưng giáo trình đang giảng dạy vẫn như cũ. Có những tác giả tác phẩm mới những người biên soạn sách muốn đưa vào nhưng vẫn ngần ngừ không muốn bỏ cái cũ dẫn đến chương trình cồng kềnh, nặng nề, tiêu tốn thời gian mà ít tìm ra được trò giỏi, mình đào tạo như thế sẽ không thể ứng dụng cho đời sống được.
PV: Anh có một thời gian dài làm lý luận phê bình, thời gian gần đây anh dường như ít chú tâm đến phần việc này?
PPP: Trước đây tôi viết phê bình nhiều, bây giờ bận rộn tôi viết ít hơn, hơn nữa đời sống văn học hiện quá sôi động tôi không theo kịp, thông tin nắm bắt không nhiều, làm lý luận phê bình cần sự tỉnh táo. Giờ tôi nghiêng về viết sách, tôi cố gắng một hai năm in 1 cuốn để học trò có sách đọc tham khảo.
PV: Anh có viết cuốn Nhà văn các dân tộc thiểu số Việt nam hiện đại (1988), đây là sự điểm danh những tác giả dân tộc thiểu số của nước ta văn học thời kỳ hiện đại. Tác giả nào khu vực Tây Nguyên có tên trong cuốn sách này?
PPP: Đây là công trình tôi làm chung với giáo sư Phong Lê, tôi được phân công viết các tác giả khu vực TN, tôi có nghiên cứu về nhà văn YĐiêng ở Phú Yên, Gia Lai có nhà văn  Nay Nô, nhưng tôi không tiếp xúc được và cũng biết sự nghiệp sáng tác của ông quá mỏng nên không thể viết nên mảng tác giả DTTS ở TN còn trống. VHCM là dòng văn học nổ ra đầu tiên ở TN: Ngục Kon Tum - Lê Văn Hiến, Từ ấy - Tố Hữu, Đất nước đứng lên - Nguyên Ngọc, Lạc rừng –Trung Trung Đỉnh… đây là mảnh đất có truyền thống văn học cách mạng nhưng tác giả là người dân tộc thiểu số lại mỏng
PV: Là một ngưòi làm LLPB, anh có nhận xét như thế nào về lực lưọng người viết ở Gia Lai - Tây Nguyên hiện nay?
PPP: Tôi viết nhiều về các tác giả TN, 30 năm nay lực lượng trẻ TN không phát triển mấy, đây là tình trạng chung của nhiều vùng. Những người đến ở, gắn bó và viết về nó như VCH, PĐL, NT ít, một số tác giả đến sống một thời gian viết được vài đầu sách lại chuyển đi. Hiếm lắm mới tìm được đôi người gắn bó sự nghiệp sáng tác của mình với TN như nhà văn Nguyên Ngọc hay Trung Trung Đỉnh. Tuy họ không ở đây nhưng toàn bộ kí ức của họ thuộc về nơi này. Thế nên ở đây bây giờ mà tìm được 1 tác giả thật ấn tượng như Nguyễn Ngọc Tư của đồng bằng SCL thì khó.
PV: Theo anh cái gì làm nên thành công của một người làm lý luận phê bình?
PPP: Phải là người có nề nếp đọc, đọc nhiều, đọc văn khác với đọc các hình thái ý thức xã hội khác, đọc văn là đi tìm hình tượng chứ không đơn giản chỉ đọc trên ngôn từ, tôi có viết trong lời bạt cho một công trình nghiên cứu cuả giáo sư Phong Lê: Ngôn từ như một nghĩa địa với những chữ xếp gần nhau, người phê bình phải biết lật những nấm mồ đó lên để tìm hồn ma bên dưới, đó chính là những giá trị hình tượng. Gần đây người ta hay bắt bẻ nhau về từ ngữ chứ không chú ý tới giá trị hình tượng tác phẩm. Chữ ai cũng đọc được, song người đọc được chữ không có nghĩa là làm LLPB được, giống như không phải cứ có mắt thì xem được tranh vậy. Bởi vì không hiểu tranh thì xem có ý nghĩa gì.
PV: Cám ơn anh về cuộc trò chuyện này, chúc các dự định của anh sớm thành hiện thực.

                                                  Hoàng Thanh Hương (Thực hiện)