Nhớ Mẹ
Lã Văn Mùi
Ước chi con được về bên mẹ
Như ấu thơ tan học trở về nhà
Tiếng chích choè ríu ran trên dặng duối
Hương trầu cay ấm cả chiều quê.
Con nhớ mẹ vạt áo nâu giản dị
Luống rau mẹ trồng, bát cơm mẹ xới
Mẹ chong đèn khâu ấm suốt mùa Đông.
Đường Trường sơn bao đèo bao suối
Mẹ bên con mỗi bước hành quân
Con nhớ mẹ mỗi chiều mưa rả rích
Khói lam lên thơm ngọn cúc tần.
Mấy chục năm xa quê biền biệt
Mẹ già bậc cửa cao thêm
ước chi con được về bên mẹ
Hai tay đỡ mẹ lên thềm.
Nước có giặc con đi đánh giặc
Đau đáu suốt đời nhớ mẹ ở quê hương
Nhưng mẹ ơi nếu kẻ thù còn đến
Con lại lên đường giữ sông núi bình yên.
5/2012
L.V.M
Rất chân thành, Lã Văn Mùi trải lòng mình nói hộ tâm tình của những người lính ra đi giữ gìn độc lập tự do cho đất nước, bình yên cho mỗi mái nhà. Nhiều người, trong đó có anh, ngày xa quê mãi dài theo năm tháng, đành chọn miền đất đơn vị đứng chân làm quê hương thứ hai của đời mình, nên trong tâm tư sâu thẳm lúc nào cũng “Đau đáu suốt đời nhớ mẹ ở quê hương”.
Nỗi nhớ quê, nhớ mẹ của nhà thơ mặc áo lính bắt đầu từ những điều tưởng như đơn sơ, nhỏ nhặt nhất như: ước ao được chạy về bên mẹ, như ngày xưa tan học trở về mái nhà thân thuộc... Chỉ gợi mà không tả, anh nhắc nhớ những ký ức xa xăm: “Tiếng chích choè ríu ran trên dặng duối/ Luống rau mẹ trồng, bát cơm mẹ xới/ Mẹ chong đèn khâu ấm suốt mùa đông/ Khói lam lên thơm ngọn cúc tần”.
Nỗi nhớ ấy thường trực trong anh. Tất cả từ dáng vẻ, âm thanh, cảnh vật quê nhà đến những vun thu, âu lo, chăm chút mẹ dành cho gia đình. Mong được ở bên người mẹ hiền, Lã Văn Mùi không ngần ngại nhắc đi, nhắc lại điệp ngữ “Con nhớ mẹ”.
“Con nhớ mẹ vạt áo nâu giản dị
Luống rau mẹ trồng, bát cơm mẹ xới
Mẹ chong đèn khâu ấm suốt mùa đông”
Hay:
“Con nhớ mẹ mỗi chiều mưa rả rích
Khói lam lên thơm ngọn cúc tần”.
Người Mẹ của riêng anh cũng giống bao bà mẹ Việt Nam khác: đẹp đẽ, chở che, chịu khó, chịu thương và đặc biệt nhất ở họ là đức hy sinh cao cả vì: Khi Tổ quốc cần, những người mẹ Việt Nam sẵn sàng gửi các con cho Tổ quốc.
Hạnh phúc mà người lính ước ao sau từng ấy năm xa quê là được trở về bên mẹ, khi mà “Mẹ già bậc cửa cao thêm”, để được tận hiếu “Hai tay đỡ mẹ lên thềm” để được gần thêm mùi trầu cay ấm áp, mùi của vạt áo nâu giản dị. Con người từng trải là anh, dù đã vượt qua bao nhiêu thác lũ Trường Sơn hay Tây Nguyên đại ngàn nhưng vẫn ước muốn trở lại bé nhỏ bên mẹ, bên mái nhà xưa từng đón anh mỗi sớm, mỗi chiều. Nơi ấy có tiếng chim ríu ran trên dặng duối. Nơi ấy còn có giọt mưa chiều rả rích mái gianh, bên hiên hàng xóm vọng lời ru à ơi buồn khắc khoải…
Dù khi chiến tranh hay đất nước đã hoà bình, nỗi nhớ về mẹ luôn luôn thường trực, ấp ủ trong trái tim đứa con vẫn đang xa nhà biền biệt. Mỗi năm đôi lần phép, mỗi lần đấp đoảng tranh thủ về bên mẹ, chỉ càng làm dầy thêm nỗi nhớ thương mẹ thắt lòng, khi bóng mẹ hút dần phía sau xe ngóng tiễn. Người đọc như cùng sống lại với tác giả thời thơ nhỏ, để xót xa, đồng cảm với đứa con xa quê. Đã hai lần, cụm từ “Ước chi con được về bên mẹ” được thốt lên thành lời, mang theo âm hưởng nhớ nhung, day dứt, xuyên suốt bài thơ.
Khổ kết của bài thơ khá hay, tuy có vẻ như là… hô khẩu hiệu.
“Nước có giặc con đi đánh giặc
Đau đáu suốt đời nhớ mẹ ở quê hương
Nhưng mẹ ơi! Nếu kẻ thù còn đến
Con lại lên đường giữ sông núi bình yên”
Nhưng, ngẫm lại thấy có lý, Cu-Dơ-Nhét-Xốp, tình báo viên Xô Viết trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại (Sau vùng địch hậu Rô-Vô-Nô) đã viết: “Tôi còn trẻ và tôi yêu đời, nhưng nếu cần hi sinh đời tôi vì Tổ quốc mà tôi yêu mến như một người mẹ thì tôi sẽ làm ngay, không quyết do dự …”
Cuộc sống của bạn, của tôi, của Lã Văn Mùi rốt cuộc là gì? Phải chăng chính là gia đình, là quê hương, là Mẹ. Ra chiến trường đánh giặc mà vẫn đau đáu nhớ mẹ ở quê nhà đâu phải “thiếu lập trường” mà chính là bởi yêu mẹ. Càng yêu mẹ càng phải ra đi để bảo vệ cuộc sống bình yên cho mọi người, cho mẹ.
Chân lý là giản dị vậy đó!
Hoàng Thanh Hương


