Hiển thị các bài đăng có nhãn Bình Thơ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bình Thơ. Hiển thị tất cả bài đăng

8.03.2012

Đến với bài thơ hay


                        Nhớ Mẹ

                                   Lã Văn Mùi

Ước chi con được về bên mẹ
Như ấu thơ tan học trở về nhà
Tiếng chích choè ríu ran trên dặng duối
Hương trầu cay ấm cả chiều quê.

Con nhớ mẹ vạt áo nâu giản dị
Tay nghiêng nghiêng sàng sẩy mùa màng
Luống rau mẹ trồng, bát cơm mẹ xới
Mẹ chong đèn khâu ấm suốt mùa Đông.

Đường Trường sơn bao đèo bao suối
Mẹ bên con mỗi bước hành quân
Con nhớ mẹ mỗi chiều mưa rả rích
Khói lam lên thơm ngọn cúc tần.

Mấy chục năm xa quê biền biệt
Mẹ già bậc cửa cao thêm
ước chi con được về bên mẹ
Hai tay đỡ mẹ lên thềm.

Nước có giặc con đi đánh giặc
Đau đáu suốt đời nhớ mẹ ở quê hương
Nhưng mẹ ơi nếu kẻ thù còn đến
Con lại lên đường giữ sông núi bình yên.

 5/2012
 L.V.M

       Rất chân thành, Lã Văn Mùi trải lòng mình nói hộ tâm tình của những người lính ra đi giữ gìn độc lập tự do cho đất nước, bình yên cho mỗi mái nhà. Nhiều người, trong đó có anh, ngày xa quê mãi dài theo năm tháng, đành chọn miền đất đơn vị đứng chân làm quê hương thứ hai của đời mình, nên trong tâm tư sâu thẳm lúc nào cũng “Đau đáu suốt đời nhớ mẹ ở quê hương”.

Nỗi nhớ quê, nhớ mẹ của nhà thơ mặc áo lính bắt đầu từ những điều tưởng như đơn sơ, nhỏ nhặt nhất như: ước ao được chạy về bên mẹ, như ngày xưa tan học trở về mái nhà thân thuộc... Chỉ gợi mà không tả, anh nhắc nhớ những ký ức xa xăm: “Tiếng chích choè ríu ran trên dặng duối/ Luống rau mẹ trồng, bát cơm mẹ xới/ Mẹ chong đèn khâu ấm suốt mùa đông/ Khói lam lên thơm ngọn cúc tần”.

Nỗi nhớ ấy thường trực trong anh. Tất cả từ dáng vẻ, âm thanh, cảnh vật quê nhà đến những vun thu, âu lo, chăm chút mẹ dành cho gia đình. Mong được ở bên người mẹ hiền, Lã Văn Mùi không ngần ngại nhắc đi, nhắc lại điệp ngữ “Con nhớ mẹ”.

    “Con nhớ mẹ vạt áo nâu giản dị
Tay nghiêng nghiêng sàng sẩy mùa màng
Luống rau mẹ trồng, bát cơm mẹ xới
Mẹ chong đèn khâu ấm suốt mùa đông”
Hay:
    “Con nhớ mẹ mỗi chiều mưa rả rích
 Khói lam lên thơm ngọn cúc tần”.

Người Mẹ của riêng anh cũng giống bao bà mẹ Việt Nam khác: đẹp đẽ, chở che, chịu khó, chịu thương và đặc biệt nhất ở họ là đức hy sinh cao cả vì: Khi Tổ quốc cần, những người mẹ Việt Nam sẵn sàng gửi các con cho Tổ quốc.

Hạnh phúc mà người lính ước ao sau từng ấy năm xa quê là được trở về bên mẹ, khi mà “Mẹ già bậc cửa cao thêm”, để được tận hiếu “Hai tay đỡ mẹ lên thềm” để được gần thêm mùi trầu cay ấm áp, mùi của vạt áo nâu giản dị. Con người từng trải là anh, dù đã vượt qua bao nhiêu thác lũ Trường Sơn hay Tây Nguyên đại ngàn nhưng vẫn ước muốn trở lại bé nhỏ bên mẹ, bên mái nhà xưa từng đón anh mỗi sớm, mỗi chiều. Nơi ấy có tiếng chim ríu ran trên dặng duối. Nơi ấy còn có giọt mưa chiều rả rích mái gianh, bên hiên hàng xóm vọng lời ru à ơi buồn khắc khoải…

Dù khi chiến tranh hay đất nước đã hoà bình, nỗi nhớ về mẹ luôn luôn thường trực, ấp ủ trong trái tim đứa con vẫn đang xa nhà biền biệt. Mỗi năm đôi lần phép, mỗi lần đấp đoảng tranh thủ về bên mẹ, chỉ càng làm dầy thêm nỗi nhớ thương mẹ thắt lòng, khi bóng mẹ hút dần phía sau xe ngóng tiễn. Người đọc như cùng sống lại với tác giả thời thơ nhỏ, để xót xa, đồng cảm với đứa con xa quê. Đã hai lần, cụm từ “Ước chi con được về bên mẹ” được thốt lên thành lời, mang theo âm hưởng nhớ nhung, day dứt, xuyên suốt bài thơ.

Khổ kết của bài thơ khá hay, tuy có vẻ như là… hô khẩu hiệu.
“Nước có giặc con đi đánh giặc
Đau đáu suốt đời nhớ mẹ ở quê hương
Nhưng mẹ ơi! Nếu kẻ thù còn đến
Con lại lên đường giữ sông núi bình yên”

Nhưng, ngẫm lại thấy có lý, Cu-Dơ-Nhét-Xốp, tình báo viên Xô Viết trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại (Sau vùng địch hậu Rô-Vô-Nô) đã viết: “Tôi còn trẻ và tôi yêu đời, nhưng nếu cần hi sinh đời tôi vì Tổ quốc mà tôi yêu mến như một người mẹ thì tôi sẽ làm ngay, không quyết do dự …”

Cuộc sống của bạn, của tôi, của Lã Văn Mùi rốt cuộc là gì? Phải chăng chính là gia đình, là quê hương, là Mẹ. Ra chiến trường đánh giặc mà vẫn đau đáu nhớ mẹ ở quê nhà đâu phải “thiếu lập trường” mà chính là bởi yêu mẹ. Càng yêu mẹ càng phải ra đi để bảo vệ cuộc sống bình yên cho mọi người, cho mẹ.
Chân lý là giản dị vậy đó!

                                                                                                         Hoàng Thanh Hương

1.07.2012

ĐẾN VỚI BÀI THƠ HAY NGÀY CƯỚI





Vừa rồi, Nguyễn Văn Hòa, người viết trẻ ở Phú Yên alo báo đã bình xong bài thơ “Ngày cưới” của mình, bài này trước đây bạn Đỗ Thu Huyền ở Viện văn học từng bình và đăng trong tuyển văn học Dân tộc và miền núi NXB Giáo dục năm 2007, mình rất thích bài bình ấy. Hòa là người chịu khó đọc văn chương trẻ và viết rất chăm, quan trọng hơn là Hòa thích thú với việc viết. Hòa nói viết bài này khá


nhanh, viết xong là mail luôn, cảm nhận của một người nam về “Ngày cưới” của HTH là như vầy, xin giới thiệu cùng bạn đọc.

ĐẾN VỚI BÀI THƠ HAY

NGÀY CƯỚI

Ngày cưới em không được ngồi xe hoa
nhà mình gần nhau vào ra đụng ngõ 
sắp đến ngày vu quy
em thèm nghe được giọng mình
đêm thật khuya và gió.

Ngày cưới em không được rót rượu hồng
ly rượu trong mơ chạm môi ngọt lịm
chiếc bánh kem ba tầng
gắn nhiều hoa nhỏ
có đôi uyên ương hôn nhau
em chưa hề được chạm tay
em thèm được bế tung lên
thèm lao vào nhau bốc cháy.

Thế rồi chúng mình vẫn yêu
vẫn bền bỉ bên nhau tháng dài
và quên bao điều nhỏ nhặt
nhìn người ta dìu nhau
bước vào hôn trường
hoa giăng rực rỡ
lại nhớ ngày qua.

Thế rồi vườn hoa trước sân nhà
thi nhau nở bông vàng bông tím
có nụ hồng rưng rưng trong sương mai
anh hái đặt lên ngực em
mùa xuân về hát bên khung cửa
khung cửa có nhiều ô hình trái tim./.

Hoàng Thanh Hương

        Có rất nhiều kỷ niệm trong đời mỗi một con người nhưng kỷ niệm về ngày cưới có lẽ là kỷ niệm thiêng liêng, sâu sắc và đáng nhớ nhất. Cái hạnh phúc tột cùng của những đôi trai gái yêu nhau đó là việc bố mẹ hai bên chấp nhận và chọn ngày lành tháng tốt để tổ chức hôn lễ, một sự kiện trọng đại, một dấu mốc quan trọng trong cuộc đời.
         Nhưng không phải ai trong chúng ta cũng có được cái hạnh phúc và sự thiêng liêng ấy. Có người đến với nhau bằng tình yêu chân thành, đích thực, đúng nghĩa và không vụ lợi, họ yêu thương nhau thật lòng nhưng họ lại không có điều kiện tổ chức ngày cưới. Họ chưa hề có được cảm giác và tâm trạng hân hoan đó trong chính cuộc đời mình. Có người vẫn tổ chức ngày cưới đàng hoàng, nhưng vì nhiều lý do khác nhau mà việc tổ chức ngày cưới của mình không được đầy đủ, không có xe hoa, rượu hồng, bánh kem …
Ngày cưới em không được ngồi xe hoa
nhà mình gần nhau vào ra đụng ngõ
          Mạch cảm xúc của bài thơ giống như một câu chuyện kể, lời kể ấy được viết bằng thơ, rất tự nhiên như lời tâm tình, thủ thỉ, giãi bày những cảm xúc thực của bản thân. Đó là kỷ niệm về ngày cưới của mình và niềm khát khao cháy bỏng được chính mình tận hưởng những phút giây ngọt ngào, say đắm trong một lễ cưới đủ đầy và lãng mạn.
          Có nhiều lý do để “em” không được thưởng thức những nghi thức lễ nghi vật chất sang trọng: không được ngồi xe hoa, không được rót rượu hồng, không có chiếc bánh kem ba tầng gắn nhiều hoa nhỏ. Nhưng nhà thơ chỉ nêu ra một lý do là “nhà mình gần nhau vào ra đụng ngõ”.
         Ở nông thôn nhà gần nhau thì làm gì phải xe hoa ngày cưới, mà ở đây gần nhau đến độ ra vào đụng ngõ. Nhà gần đến cỡ ấy, không có xe hoa ngày cưới cũng là điều hợp lý, cũng là lẽ thường tình. Thế còn rượu hồng, bánh kem có liên quan gì đến nhà gần nhau ra vào đụng ngõ, sao cũng chẳng có?
           Điều cốt lõi nhất là hoàn cảnh kinh tế của hai gia đình còn quá khó khăn. Nhà thơ Hoàng Thanh Hương từng tâm sự: “Lúc anh chị yêu nhau cha mẹ hai bên không thuận, anh chị tổ chức đám cưới cũng là lúc hai gia đình đều khó khăn, cả hai đều là con đầu lòng, hai nhà đều đông em… do vậy tự lo là chính ”. Từ thực tế ấy, sắp đến ngày vu quy cô gái nhỏ trong “Ngày cưới” phải tất bật lo toan nhiều thứ, từ những cái đơn giản nhất như quét dọn, sắp xếp đồ đạc trong nhà, chuẩn bị chén bát, bàn ghế đến việc phải tính toán mua những thứ đồ dùng cần thiết cho quan trọng của đời mình. Vì vậy, sắp đến ngày vu quy mà:
sắp đến ngày vu quy
em thèm được nghe giọng mình
đêm thật khuya và gió.
          Hai khổ thơ đầu cụm từ em không được, em chưa hề, em thèm, thèm biểu hiện những khao khát nồng nàn mãnh liệt của “em”. Khát khao ấy đã đi đến đỉnh điểm
           Rồi thời gian vẫn cứ qua đi, mặc cho bao khó khăn thiếu thốn, bao gánh gồng nặng nợ áo cơm và những trúc trắc trên đường đời. Nhưng chúng mình vẫn vượt qua được và càng yêu nhau thắm thiết hơn, gắn bó bền chặt hơn, quên đi bao điều nhỏ nhặt của cuộc sống thường ngày. Ấy vậy, nhưng khi thấy người ta bước vào hôn trường, hoa giăng rực rỡ thì nỗi nhớ cồn cào da diết về ngày cưới năm nào của em lại trỗi dậy và em lại nhớ về những điều giản dị, những cái mà em hằng ước ao.
          Viết về tình yêu, thể hiện khát vọng cá nhân đó là giây phút mà nhà thơ Hoàng Thanh Hương hướng về tâm hồn mình ở độ sâu thẳm nhất. Đó là sự ý thức về tình yêu và sự sống một cách vừa sâu sắc, chín chắn và không kém phần lãng mạn.
Dù không được như các bạn trẻ sau này, đám cưới của anh và em không có đầy đủ lễ nghi, tiệc tùng sang trọng nhưng tình yêu giữa em và anh ngày càng mặn nồng tha thiết. Anh cũng đã dành cho em những phút giây lãng mạn tình tứ của tình yêu chồng vợ.
có nụ hồng rưng rưng trong sương mai
anh hái đặt lên ngực em

           Cái hay, đến khổ cuối mới xuất hiện “anh”. Chính “anh” xuất hiện thì những gì “em” giãi bày ở trên nó mới có giá trị. Và cũng chính anh là nhân chứng, là điểm tựa, là tình yêu thương vô bờ bến đối với em. Hơn ai hết chính anh mới là người hiểu, thông cảm và yêu thương em nhất.
            Những cái nhà thơ nói ở trước đó là sự ước ao, thèm khát đến cháy lòng. Vì hình ảnh những đám cưới kia mà nó làm trỗi dậy trong em những khao khát đó - chứ em không hề có ý trách móc, than vãn hay đòi hỏi điều gì.
            Hình ảnh thiên nhiên trong khổ thơ cuối hiện lên sống động, có sự giao hòa với con người. Một thiên nhiên rực rỡ sắc màu.
Thế rồi vườn hoa trước sân nhà
thi nhau nở bông vàng bông tím
có nụ hồng rưng rưng trong sương mai
anh hái đặt lên ngực em
mùa xuân về hát bên khung cửa
khung cửa có nhiều ô hình trái tim
           Bằng cái nhìn tâm trạng, không gian và thời gian trong bài thơ luôn trong thế vận động và tràn đầy sức sống.
            Suốt bài thơ, đó là một tình yêu da diết, sôi nổi và nồng thắm. Nhà thơ cũng đã ý thức được rằng trong cái vô hạn của đất trời, sự ngắn ngủi của cuộc đời không phải bao giờ, cái gì ta cũng đạt được. Vì vậy mà ta không nên nản chí và có quyền ước mơ. Khi đã ý thức được điều này có nghĩa chúng ta đang rất yêu cuộc sống này!
            Cái hay của bài thơ là sự giãi bày những cảm xúc thật của một người phụ nữ giàu cá tính, sống và yêu hết mình. Bởi chị ý thức sâu sắc rằng tình yêu thương là con đường ngắn nhất dẫn đến trái tim. Ở đâu tình yêu được sống trong bình đẳng, chân thành và đầy đức tin thì ở đó tình yêu càng trong sáng và hoàn thiện. Hạnh phúc của con người trước hết là hạnh phúc của những con người đang sống. Trong đời người ai chẳng từng yêu và tránh sao khỏi những giây phút giận hờn, “cơm chẳng lành canh chẳng ngọt” nhưng với nhà thơ trẻ Hoàng Thanh Hương chị đã khéo vén vun và vượt qua tất cả.
           Hoàng Thanh Hương viết nhiều về tình yêu, thơ chị thể hiện một tâm hồn khao khát hạnh phúc, đó là cảm giác thường trực trong chị, dẫu phải vượt qua bao sóng gió cuộc sống. Tâm hồn đa cảm của một nghệ sĩ như chị dù hiện tại hạnh phúc nhưng vẫn không quên quá khứ của mình và luôn có một niềm tin tưởng, mơ ước vào tương lai. Điều đó thật đáng quý vô cùng.


Nguyễn Văn Hòa
Điện thoại: 0984.833.247
Email: nguyenvanhoaphuyen@gmail.com

1.03.2012

ĐẾN VỚI BÀI THƠ HAY MẮC NỢ PHÙ SA

Nguyễn Văn Hòa là người viết trẻ đang sống và giảng dạy tại một huyện khá khó khăn của tỉnh Phú Yên. Hiện anh đang theo học lớp cao học VHVN tại trường ĐH Quy Nhơn. Tình cờ, một lần đọc bài bình thơ "Nói với con" của Hòa trên trang web Phongdiep. Tôi ngạc nhiên xúc động, trong lớp hơn 30 thầy cô giáo dạy ngữ văn nhưng chỉ vài người có khả năng viết và dành thời gian cho văn chương, tìm đọc bình thơ, giới thiệu sách. Tối qua, Hòa gọi điện báo vừa mail cho tôi bài bình tác phẩm "Mắc nợ phù sa" của nhà thơ trẻ Nguyễn Đức Phú Thọ. HTH giới thiệu, mời bạn bè cùng đọc.


Mắc nợ phù sa

Người già quanh tôi luôn hoài niệm về những cánh đồng
Dẫu hạt lúa trả công họ bằng đời người nước mắt
Lũ quét qua đêm sáng ngày tay trắng
Buổi gió sương ghìm nén niềm vui.

Cha tôi
Trùi trũi ngực trần
Manh áo mỏng bốn mùa không kết nút
Từng giọt thời gian…
Bao giọt thời gian rắc mùa lên tóc?
Luống cày đi lấp bóng bàn chân
Những mặc cảm chữ nghĩa neo vào giấc mơ con trẻ.

Tôi cúi xuống
Nơi gót chân tím bầm rịn rơi dáng mẹ
Râm ran nhịp trầm trứng nước Âu Cơ
Tôi bắt gặp
Những người đàn bà quẩn quanh
Nhìn ngóng sao trời đếm đong lụt hạn
Thuyền duyên neo không kịp chọn bến đời.

Đã bao lần
Tôi quỳ trước bãi mộ hoang phủ dày đặc cỏ
Trước những tiền nhân khai sáng đất đai gieo trồng giống má
Trước những phận người chưa lần hưởng trái sinh thành
Đã lấp vùi thân thể mình vào cát.

Cánh cò chở ước mơ chưa rạng
Bão đời làm chống chếnh câu thơ
Đêm đỏ mắt phù sa nhót mình mắc nợ…

Nguyễn Đức Phú Thọ
(Rút trong tập Nỗi buồn đập cánh, NXB Văn hóa- Văn nghệ, 2011)



Mắc nợ phù sa là một trong số những bài thơ hay của nhà thơ trẻ Nguyễn Đức Phú Thọ. Ngay tên nhan đề bài thơ đã gây được ấn tượng cho người đọc, vì nó có một sức ám gợi lớn, tạo nên những liên tưởng thú vị, có ý nghĩa biểu tượng và giàu giá trị nhân văn. Ở đời, con người ta có thể mắc nợ nhiều thứ: mắc nợ tiền bạc, mắc nợ gạo thóc, mắc nợ áo cơm … Ở đây nhà thơ Nguyễn Đức Phú Thọ lại mắc nợ với một vùng đất, mắc nợ với tổ tiên, với ông cha. Nhà thơ gọi đó là “mắc nợ phù sa!”
Bằng một giọng giàu cảm nghiệm, giàu suy tư, cách kết hợp từ ngữ bất ngờ, độc đáo Thọ tạo cho bài thơ một dấu ấn riêng. Vì thế nhà thơ Hoàng Tuấn Anh đã rất có lý khi cho rằng: “Phú Thọ luôn cần mẫn gieo – hạt – giống – lạ trên cánh đồng chữ thi ca để chạm tới mạch nguồn đích thực của thơ trẻ đương đại”.
Mở đầu bài thơ:
Người già quanh tôi luôn hoài niệm về những cánh đồng
Dẫu hạt lúa trả công họ bằng đời người nước mắt
Những gian truân, vất vả, bão giông của thiên nhiên, của cuộc đời hình như đã đè nặng lên bao kiếp người nông dân tảo tần, xuôi ngược. Để rồi họ phải thầm lặng sống, thầm lặng chống chọi và vượt qua. Những người nông dân chân lấm tay bùn làm ra hạt lúa phải đánh đổi bằng cả mồ hôi và nước mắt, thậm chí có khi cả tính mạng con người.
Những thành quả, những gì họ làm được có thể sẽ trắng tay sau một cơn lũ quét. Lũ quét qua đêm sáng ngày tay trắng.Trước thảm cảnh như vậy chỉ còn cách ghìm nén niềm vui.
Hình ảnh người cha lam lũ, khổ nhọc với: Trùi trũi ngực trần/ Manh áo mỏng bốn mùa không kết nút. Bao gian khổ cuộc đời đè nặng lên đôi vai của người cha, bao gánh nặng áo cơm, bao lo toan, vất vả chất chồng còn đó. Từng giọt thời gian đã làm cho mái tóc cha bạc màu theo năm tháng.
Với Nguyễn Đức Phú Thọ, thời gian có thể chạy theo mùa, theo từng cơn gió bấc, trong sự chuyển động tuần hoàn quy luật tự nhiên. Và với anh, thời gian còn có thể được nhìn thấy, được hiện hữu bằng màu tóc cha. Thời gian được cảm nhận như có hình hài, chiều kích “giọt thời gian” (Từng giọt thời gian…/ bao giọt thời gian rắc mùa lên tóc). Hình ảnh “giọt thời gian” là một sáng tạo độc đáo của người viết.
Việc đồng áng, cày bừa, gặt hái nó trở thành công việc thường nhật bao đời của những người nông dân cùng với nó đó là những vui buồn lẫn lộn, những nỗi cơ cực bần hàn. Chính họ cũng ý thức được rằng họ phải dầm mưa dãi nắng phải vật lộn với đời, họ cam chịu nhọc nhằn vì ít chữ nghĩa. Vì thế Những mặc cảm chữ nghĩa neo vào giấc mơ con trẻ cũng có cái lý của họ. Ý thức sâu sắc điều này họ hy vọng và gửi gắm niềm tin, kiến thức vào nơi những đứa con trẻ của mình.
Bằng những trải nghiệm và sự nhạy cảm của một tâm hồn, nhà thơ Nguyễn Đức Phú Thọ đã thấu rõ điều đó.
Sự hiện diện của mỗi số phận buộc phải đi qua một khoảng thời gian nào đó. Thời gian như là ám ảnh. Thời gian- kiếp người- những thăng trầm dâu bể. Bi kịch phận người không chỉ mâu thuẫn giữa cái hữu hạn và vô hạn mà còn là bi kịch của sự phi lý. Tất cả để lại trong anh một nỗi nhớ, niềm đau quặn thắt và anh cảm thấy mình mắc nợ nhiều với nơi đất đỏ phù sa.
Tôi bắt gặp
Những người đàn bà quẩn quanh
Nhìn ngóng sao trời đếm đong lụt hạn
Thuyền duyên neo không kịp chọn bến đời.
“Quẩn quanh”, “nhìn ngóng”, “đếm đong”: chỉ những phận người bé mọn, lam lũ, quẩn quanh, sống trong cảnh chịu đựng, là những giọt nước mắt, là nỗi ưu tư nhân thế, là tâm trạng đau đớn của thân phận nhỏ bé trước kiếp người và cõi đời mênh mông, lắm đắng cay, dang dở, hụt hẫng và thậm chí là bế tắc. Vì:
Thuyền duyên neo không kịp chọn bến đời.
Sự quẩn quanh, bế tắc đã đi đến tận cùng: không kịp chọn bến đời chứ không phải là chưa kịp chọn, sắp kịp chọn, sẽ kịp chọn …Nếu chưa, sắp, sẽ thì còn có thể và có cơ hội, có hy vọng để tìm đến bến bờ hạnh phúc. Cái hay của nhà thơ trong trường hợp này là sử dụng từ ngữ có chọn lọc, độc đáo và hợp lôgic.
Có nhiều bài thơ Phú Thọ viết về quê hương, đất nước với hình ảnh những người bà, người mẹ, người em… vừa gần gũi vừa thân thuộc, mang nặng một nỗi niềm.
Vàng bông bí cầu tre ngược dốc
Áo bà ba nón lá em về
Phù sa vỗ chướng mùa trở ngọn
Gánh sông gầy loang chảy điệu dân ca…
(Giai điệu đồng bằng)
Cái gốc yêu thương của anh là yêu từng con người cụ thể, những con người nhỏ bé với những nỗi nhọc nhằn cơ cực và có số phận mong manh. Trên cơ sở đó mới yêu thương mọi người, ghi nhớ, biết ơn, thành kính, trân trọng những bậc tiền nhân khai sáng, những phận người chưa hưởng trái sinh thành đã lấp mình vào cát, đã đi xa mãi về thế giới bên kia.
Trên mảnh đất đỏ nặng phù sa, mảnh đất nghĩa tình - gắn với bao ký ức, niềm thương; mọi biến cố của cuộc đời dâu bể, của những cơn bão lũ, những trận mưa dông và cả những vị mặn mòi của vùng đất đỏ phù sa nó đã ăn sâu vào máu thịt, vào từng hơi thở của anh.
Để rồi nhà thơ Nguyễn Đức Phú Thọ phải xót xa, đau đớn, khi nghĩ về cuộc đời, về số phận, về thế thái nhân tình, về những con người ở vùng đất mà anh đã gắn bó, với những bậc tiền nhân khai sáng, với tổ tiên, với những điều còn đang dang dở.
Đã bao lần
Tôi quỳ trước bãi mộ hoang phủ dày đặc cỏ
Trước những tiền nhân khai sáng đất đai gieo trồng giống má
Trước những phận người chưa lần hưởng trái sinh thành
Đã lấp vùi thân thể mình vào cát.
Cảm thức thời gian cứ trôi chảy cùng cảm thức về đời người, những hoài niệm về quá khứ và cả những gì đang diễn ra, nó đã trở thành nỗi khắc khoải, lo âu và cả sự đau đớn, nghẹn ngào. Tôi cúi xuống …/ Tôi bắt gặp …/ Tôi quỳ … đó một hành động, một thái độ, một nghĩa cử đáng quý và đáng trân trọng biết bao!
Tận trong sâu thẳm trái tim mình anh đã phải đau đáu thốt lên:
Cánh cò chở ước mơ chưa rạng
Bão đời làm chống chếnh câu thơ
Đêm đỏ mắt phù sa nhót mình mắc nợ…
Bằng cách nói ẩn dụ anh dẫn dắt người đọc đi từ sự cảm thông, đau xót đến sự suy ngẫm.
Mắc nợ phù sa là tình cảm của một người con quê nhà, là sự trăn trở, lòng biết ơn sâu sắc đến một vùng đất, đến tổ tiên, đến những người khai sáng, đến ông bà - cha mẹ… Đồng thời đó là tiếng kêu thương thảng thốt, sự cảm thông đến những kiếp người, phận người bé mọn, lắm vất vả, đắng cay và tủi cực. Bằng tâm hồn nhạy cảm của một nghệ sĩ và sự ý thức sâu sắc về trách nhiệm của một người công dân, những niềm vui, nỗi buồn, sự đau khổ, nỗi lo lắng được Nguyễn Đức Phú Thọ kết đọng lại thành thơ. Tất cả những điều đó đi vào thơ anh như một sự tự giãi bày, tự mở rộng lòng mình ra. Để rồi trong sâu thẳm trái tim nhà thơ anh cảm thấy mình còn “mắc nợ”./.

Nguyễn văn Hòa
Giáo viên Trường PT cấp 2-3 Xuân Phước,
huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên
Điện thoại: 0984.833.247